BUỔI GIAO THỜI

Thông thường khi bàn chuyện tinh thần thì người ta cho là nó chỉ liên quan đến phần tinh thần con người, và không quan tâm mấy đến phần vật chất, hình thể. Cách suy nghĩ ấy có giá trị của nó và trong quá khứ đã giúp được người tiến bước. Tuy vậy, với tâm thức ngày càng mở rộng của con người thì nay ta phải nói sâu hơn là chuyện tinh thần học về sự Sống, hàm ý việc học bao trùm cả phần tinh thần lẫn hình thể mà không phải chỉ riêng tinh thần. Cả hai tiến hóa song song nhau, khi tâm thức phát triển thì nó uốn nắn hình thể, khiến hình thể trở thành dụng cụ thích hợp hơn cho tâm thức biểu lộ trong cõi vật chất, và tác động của những lực trong thiên nhiên thí dụ ảnh hưởng các cung vào thời điểm nào đó, cũng tác động lên cả tâm thức và hình thể cho ra thay đổi tương ứng. Trong bài này, ta xét về đời sống tinh thần của tân kỷ nguyên và nương theo ý này bài sẽ đề cập đến cả hai phần là tinh thần và hình thể.
Nhân loại đang ở những ngày đầu của tân kỷ nguyên, khi năng lực cung bẩy chỉ mới bắt đầu có ảnh hưởng và lực cung sáu tuy đang trên đường rút lui nhưng vẫn còn mạnh và chế ngự nhiều sinh hoạt trên thế giới. Để hiểu một chút về vấn đề ta gặp phải và những cách làm việc khác nhau của người trong quá khứ chịu ảnh hưởng của cung sáu, và của người đang học cách làm việc theo tác động của cung bẩy ngày một mạnh dần, ta hãy so sánh thật ngắn gọn hai hệ thống này. Điều nên lưu ý là cả hai hệ thống và cách làm việc đều đúng cách vào thời điểm và khung cảnh riêng của chúng, nhưng ta đang bước vào thời đại mới thì cần để qua bên những phương pháp cũ, và từ từ học cách sử dụng những cách làm việc tân tiến và hữu hiệu hơn.
Từ nay cung bẩy sẽ trở thành cung chính, nhưng ta cũng nên hiểu rằng hệ thống kỷ luật – là đặc tính của cung sáu – vẫn là sở hữu quí giá nhất, vì lợi ích và kinh nghiệm nhờ kỷ luật mà có nay được chuyển hóa thành đặc tính và thói quen mạnh mẽ. Con người của thời đại mới cần học thông thạo những cách làm việc mới, lực mới và mục tiêu mới dựa trên những bài học của quá khứ, và rồi phải dùng những nền tảng đã có sẵn cho các chân lý mới,
Bước đầu tiên cho người thành tâm ở điểm này là dừng lại một chốc, để tự hỏi và khám phá là mình đang làm việc chính ra theo sự thúc đẩy của cung sáu hay ảnh hưởng của cung bẩy. Ta phân biệt hai chữ 'sự thúc đẩy' và 'ảnh hưởng', vì chúng mô tả tác dụng tổng quát của hai năng lực. Một điều ta biết chắc là năng lực cung sáu có từ hai ngàn năm qua nay vẫn còn mạnh, và phải được thấu hiểu để giải trừ; kế đó người ta cần học hỏi những năng lực mới, phương pháp mới, và biểu lộ lý tưởng cùng những ý niệm mới theo cách mới hơn. Chỉ khi được vậy thì nền văn minh và văn hóa của tân kỷ nguyên mới có thể được sinh ra một cách sáng suốt, và nền tảng cho sự phát triển của nhân loại được đặt theo đúng hướng trong thời đại đang tới này.

Cung Sáu
Đầu tiên, hãy nói về phương pháp, hoạt động và những đặc tính chính của cung sáu. Đó là những điều quen thuộc nhất đối với chúng ta, cho phép ta hiểu những cách mới để khám phá và diễn giải minh triết cổ thời, hiểu được cách làm việc mới để mang lại sinh lực mới cho công việc của Thiên đoàn (Hierachy) dưới trần.
Đặc tính nổi bật nhất của người chí nguyện và người đệ tử trong thời đại trước là lòng sùng tín. Con người phải đạt tới một định hướng mới và khác hơn về các giá trị tinh thần, do đó nỗ lực của Thiên đoàn trong hai ngàn năm qua là nhấn mạnh vào các giá trị tôn giáo. Giai đoạn 2.000 năm qua của cung sáu (thời đại Song Ngư – Pisces) có nỗ lực chính là khiến nhân loại nhất tâm hướng về linh hồn, để do vậy tự chuẩn bị cho đời sống tâm linh của giai đoạn kế là thời đại Bảo Bình (Aquarius), và thời đại này tới phiên nó dẫn đến sự thức tỉnh lớn lao hơn trong thời Dương Cưu tiếp đó (Capricorn).
Bởi thế, các tôn giáo lớn trên thế giới đã nắm giữ vai trò quyền thế trong khoảng thời gian rất dài, những tín điều riêng của mỗi tôn giáo, được thích nghi cho các quốc gia hoặc giống dân, thời điểm riêng biệt, biểu lộ một chân lý nào đó qua một vị huấn sư. Vị này thu hút những ai có khuynh hướng tinh thần vì họ đối với họ, ngài thể hiện mục tiêu cao cả nhất mà họ có thể vươn tới.  Tất cả những tôn giáo thế giới vì vậy được xây dựng quanh một Vị, quanh  ý tưởng được nhân cách hóa, và ngài biểu lộ cái lý tưởng của thời đại và khung cảnh khi đó. Ngài cho thấy vài đặc tính thiêng liêng và ý niệm cần được trưng ra cho con người như là mục đích cho lúc ấy. Ta có thể thấy ảnh hưởng của cung sáu qua những biểu lộ này, và ảnh hưởng càng lộ rõ khi cung sáu là cung chính linh hoạt trong thời điểm nào đó. Nó là lý do cho các ý tưởng tôn giáo, tín điều, quyền uy của các giáo hội đặc biệt có sức mạnh trong thời đại vừa qua.
Định hướng này của con người đối với những giá trị cao hơn hay thế giới tinh thần là mục tiêu chính của thời Song Ngư vừa chấm dứt, và do ảnh hưởng của cung sáu là lực cũng đang mau tàn lụi. Mặc dù đây là những lực và tác động chính trong hai ngàn năm qua, ẩn sau chúng còn một lực khác mạnh mẽ hơn không ngừng thúc đẩy con người tiến tới, đó là lực tiến hóa. Nhân loại hằng được hướng tới một điều khác cao hơn và khó khăn hơn, là cõi tinh thần nơi sinh hoạt của người giác ngộ và thành đạo. Muốn được vậy thì điều cần thiết là bớt chú tâm vào ba cõi sinh hoạt của người, mà bước vào thế giới cao hơn là tâm thức của linh hồn, tức có sự tái định hướng bản năng (có nhiều thú tính) và trí tuệ (thuộc về con người), và có sự khai mở ý thức tinh thần. Đây chỉ là những bước tuần tự trong diễn trình tiến hóa, hiểu như vậy thì ta thấy trong một giai đoạn  ý thức có thể thuộc về bản năng, trí tuệ hoặc tinh thần, tùy theo mức tiến hóa, và đều thiêng liêng như nhau.

Mục tiêu thứ hai của ảnh hưởng cung sáu là tạo khả năng trừu tượng. Đặc tính nổi bật của thời đại Song Ngư vừa qua là sự lý tưởng hóa, việc đáp ứng với những điều mà trực giác cảm nhận là có giá trị cao hơn. Trong quá khứ, đó đây có vài trường hợp hiếm hoi biểu lộ khả năng hướng tâm thức từ cõi hình thể hay vật chất của sự sống và trụ nó vào một lý tưởng, vào sự thể hiện vô hình của chân lý sống động. Ngày nay, trọn khối nhân loại và trọn mỗi nước được đưa vào hình thức lý tưởng này hay kia, ưa chuộng các ý tưởng và sắp xếp chúng thành lý tưởng. Đó là dấu hiệu cho thấy diễn trình tiến hóa đã thành công, và nỗ lực của Thiên đoàn trong việc mở rộng tâm thức con người đã có hiệu quả.
Do đặc tính của cung sáu là lòng sùng tín, hoạt động của lực cung sáu làm tăng cường tính chất này. Trong thời gian dài 2000 năm mà cung sáu có tác động, phản ứng của người trung bình đối với nó là lòng sùng tín mạnh mẽ với lý tưởng riêng của mình, cộng thêm nỗ lực cuồng tín tìm cách áp đặt mộng mơ lý tưởng  của họ (ta nhấn mạnh chữ mộng mơ ở đây, vì nó chỉ là mộng mơ mà ít khi được biến thành thực tại) vào người khác. Chuyện không may là cách họ áp đặt làm cho:
● Ý tưởng buổi đầu bị mất đi,
● Lý tưởng ban sơ bị hủy hoại
và tín đồ hay người sùng tín bận tâm với phương pháp áp dụng lý tưởng của mình hơn là với chính lý tưởng, thí dụ như ai chiêu dụ người khác vào đạo của mình, hay cổ võ cho triết lý mà họ tha thiết. Cần nói thêm đây là lý tưởng mà họ hiểu được, nó có thể gần với lý tưởng nguyên thủy hoặc khác xa.
Thành ra ý tưởng (thương yêu người khác) bị mất trong lý tưởng (con người được cứu chuộc, đúng ra là được thoát khỏi vô minh), rồi tới phiên lý tưởng bị bỏ quên chỉ còn phương pháp áp dụng là được giữ lại (tin tưởng đến mức cuồng tín, ép buộc hay chiêu dụ hầu cho đạo mình có thêm tín đồ). Con người trở thành sùng tín đối với một lý tưởng, điều này làm chủ tư tưởng của họ, đặt để sinh hoạt của họ và thường khi dẫn dắt họ tới mức quá độ, nhẫn tâm, để làm lợi cho ý tưởng riêng mà họ tạo ra.
Ảnh hưởng lý tưởng hóa của cung sáu khiến cho lòng ham muốn, vốn là động lực thiêng liêng, đã mạnh mẽ chuyển từ ao ước hình thể vật chất sang cõi có ao ước cao hơn. Tuy chủ nghĩa duy vật vẫn còn mạnh, nay đa số người đã sẵn sàng đáp ứng lại với một ước vọng lý tưởng rõ ràng, cũng như khi cần thì sẵn lòng hy sinh, như hành vi quá khích của người cuồng tín vì tôn giáo hay chủ nghĩa nào đó. Việc hy sinh cho một ý tưởng đã có từ xưa nhưng có tính cách cá nhân, ngày nay trọn khối đông đảo người sẵn sàng làm vậy, và đã chứng tỏ trong lịch sử của thế kỷ 20, những năm đầu của thế kỷ 21; hoặc dó là ý tưởng về một cường quốc, đế quốc, hay quốc gia, hoặc đáp ứng với nhu cầu lớn của thế giới hoặc với một chủ nghĩa. Nó cho thấy con người đã hướng tâm vào thế giới ý tưởng, vào những giá trị bớt phần vật chất và cao hơn, và đó là một thành công trên đường tiến hóa.

Đặc tính tượng trưng cho giai đoạn thuộc cung sáu này là tính chọn lọc, nó là vị giác khi nói về thực phẩm, là việc chọn người tâm đầu ý hợp khi nói về tương giao giữa người với nhau, chọn mầu sắc, y phục hợp nhãn, sự chọn lọc trong nghệ thuật, kiến trúc và trong mọi ngành hiểu biết của con người. Sự chọn lọc này đã phát triển tới một mức cao trong hai ngàn năm qua, và ngày nay xã hội coi óc chọn lọc khéo, có 'bon goût' là đặc điểm đáng quí chuộng. Đây là điều mới lạ vì từ trước tới nay nó là tính chất của số ít người có văn hóa cao hơn là của quần chúng, và như vậy đó cũng là một thành quả của sự tiến hóa.
Với ai chú trọng việc tinh thần, vị giác hay sự chọn lọc có tính vật chất được chuyển hóa thành quan năng tương đương ở mức cao hơn, tức óc phân biệt được các giá trị. Do đó trong mọi sách vở nói về con đường của người đệ tử, thí dụ như quyển Dưới Chân Thầy, đều có sự nhấn mạnh rõ ràng về việc phải phát triển óc phân biện. Ta có tóm tắt sau:
Ham muốn  →  Vị giác  →   Phân biện
Đây là những giá trị do ảnh hưởng của cung sáu, cho mọi sự phát triển theo cuộc tiến hóa, và đặc biệt là đích nhắm cho ai là đệ tử. Tính chất cung sáu khêu gợi ước nguyện thiêng liêng lẫn ham muốn thấp, làm con người vươn tới phản ảnh của thực tại là cõi trung giới.

Giai Đoạn Chuyển Tiếp
Khi năng lực cung bẩy đến thế chỗ năng lực cung sáu thì tính chất của lực mới cho ra ba điều sau:
● Văn hóa là điều có thay đổi trước tiên, bởi thay đổi về phẩm chất căn bản luôn luôn đi từ trên cao xuống, và tầng lớp trí thức là những người đầu tiên nhậy cảm với sự khác biệt đang tới. Thay đổi này dẫn tới thay đổi trong thái độ và có sự tiến gần đến chân lý hơn.
● Có thay đổi trong các loài trong thiên nhiên, khiến sự biểu lộ của linh hồn trong các loài có tính chất khác nhau, sau đó dẫn tới thay đổi trong hình thể các loài. Những hình thể mới qua đó có việc đạt thành ước vọng (tùy theo loài) sẽ được phát triển từ từ một cách khoa học. Một điều lý thú nói được ở đây, ấy là việc phát triển được thực hiện chính yếu xuyên qua thể sinh lực, y như khi thể xác của thai nhi thành hình theo cái khuôn bằng thể sinh lực, mà cung bẩy quản trị chính yếu bốn cảnh ether của cõi trần. Vì vậy thể sinh lực là cái đáp ứng với các lực mới đang tuôn xuống cõi trần và nhờ đó phát triển. Các phong trào tập thể dục, tập vận động, dùng sinh tố, hay nói chung là giữ cho thân thể khỏe mạnh (fitness) hiện nay là dấu hiệu cho thấy ảnh hưởng của cung bẩy.
● Thay đổi trong loại linh hồn sẽ tái sinh trong chu kỳ của bất cứ một cung nào. Khi cung sáu linh hoạt thì khối đông linh hồn tái sinh có tính chất thiên về cung sáu, nay sẽ có càng lúc càng nhiều linh hồn cung bẩy hiện diện.

Ta đang nói về tương lai nên gặp phải khó khăn là không có chữ thích hợp để diễn tả việc tương lai. Thí dụ như ai đó ở đầu thế kỷ 20 tiên đoán chuyện ở đầu thế kỷ 21, họ sẽ không có chữ để nói về máy điện toán, internet, trang web, blogg là hiện tượng rất phổ biến của thế kỷ 21, và sẽ khó làm cho người nghe hình dung được chính xác sự việc tương lai. Cũng y vậy, ta đang nói về hiện trạng của vài trăm năm tới, là điều mới mẻ và chưa ai hiểu trọn, cũng như những phát triển tương lai có được nhờ các phương pháp mà xét theo tiêu chuẩn hiện giờ thì y như huyền thuật với ta (với người ở thế kỷ 15 thì việc ta đưa thẻ vào máy để rút tiền, cũng là một hình thức huyền thuật đối với họ), mà chỉ là khoa học hợp lý đối với nhân loại tương lai.
Người thiên về cung sáu lấy hứng khởi ở cõi trung giới, vì đó là nơi họ tiếp xúc với năng lực chính của thời đại qua là lực cung sáu. Kết quả là huyền thuật ở cõi trung giới, huyễn ảnh dầy đặc và sai lầm nặng nề. Nhiều người xưng là huấn sư, tuyên bố là mình tiếp xúc được với những đấng cao cả, và có được hiểu biết bí truyền. Tất cả chỉ là huyễn hoặc nơi cõi trung giới, và sự thực là họ không tiếp xúc với ai, ngoại trừ việc tiếp xúc với điều về sau sẽ thành thực trạng trên trái đất. Hiện nay ngày giờ chưa tới, và ai bắt được hình ảnh tương lai chưa học cách tính ra ngày giờ đúng thực, để biết chi tiết của thiên cơ trong tương lai

Thường những người này thành thật mà lầm lạc, họ chú tâm vào cõi trung giới và do trí não chưa phát triển, họ diễn giải lầm cho mình và cho người những chuyện họ có cảm nhận tâm linh ở đó. Họ biết quá ít mà tin rằng mình biết nhiều, nói như là có quyền hành, nhưng đó là quyền hành của cái trí chưa mở rộng. Việc lập lại những khuôn sáo cũ trong quá khứ là điều nổi bật hiện giờ, gây ra lầm lạc cho quần chúng, và theo đó là ảo tưởng cho họ.
Không phải chỉ có thân xác con người mà nói chung mọi thân xác thú dần dần hóa thanh bai hơn, riêng nơi con người thì đó là diễn trình hữu ý, cho ra phát triển ngày một cao hơn và chuyên biệt hơn. Sự việc đang diễn ra mau lẹ hiện thời, khiến linh hồn có vận cụ tốt hơn nhiều để làm việc. Các dạng hình thể rất thấp của con người (thuộc mẫu chủng thứ ba Lemuria là thiểu số hiện giờ) sẽ mất đi, làm cho hình thể người có tiêu chuẩn cao hơn. Nhiều loại thú vật cũng tàn lụi dần, đây là việc đang diễn ra và đã được nhận biết từ lâu, cũng như xã hội có đáp ứng bằng cách lập ra những khu bảo tồn thú rừng.
Trong buổi giao thời này, lúc ảnh hưởng lực cũ còn mạnh và lực mới chưa hoàn toàn trụ vững, một trong những vấn đề của Thiên đoàn là làm sao có thay đổi về kỹ thuật và phương pháp phát triển mà người thuộc cung bẩy cần có, và cùng lúc tạo điều kiện để sự thích nghi và tương tác giữa Thiên đoàn và nhóm người chí nguyện dưới trần được chuyển tiếp êm xuôi. Sự thích nghi này nhắm vào vào hai nhóm hiện thời, một nhóm lớn gồm người thuộc cung sáu và nhóm vẫn còn nhỏ gồm người thuộc cung bẩy. Lẽ tự nhiên chuyện không liên can gì đến chúng ta là những kẻ chưa có nhãn quan rộng lớn như các ngài, cũng như còn trong vòng kềm tỏa của vật chất chưa giải thoát. Nó được đưa ra với mục đích là nếu đôi khi đệ tử nghĩ tới công việc khó khăn về phần các Chân sư, thì có thể họ bớt bận tâm với những khó khăn riêng của họ.

Cung Bẩy.
Một trong những đặc tính chính của người đệ tử cung bẩy là tính thực tiễn mạnh mẽ. Anh làm việc nơi cõi trần với mục tiêu luôn giữ vững trong tâm, hầu mang lại kết quả ấn định được hình thức của nền văn minh và văn hóa sắp tới. Anh sử dụng lực để tạo nên hình thể hợp với đòi hỏi của anh, và thực hiện việc ấy một cách khoa học hơn người thuộc những cung khác. Người sùng tín cung sáu thì tư tưởng và cách làm việc có tính trừu tượng và thần bí hơn, ít khi anh có sự hiểu biết thực sự về tương quan đúng đắn giữa hình thể và năng lực. Anh suy nghĩ gần như hoàn toàn về tính chất, và ít quan tâm đến mặt vật chất của cuộc sống, cùng ý nghĩa đích thực của chất liệu khi nó sinh ra hiện tượng. Anh dễ xem vật chất có bản tính xấu xa, và hình thể là một giới hạn, và chỉ xem tâm thức thiêng liêng là điều quan trọng thực sự mà thôi.
Chính cách làm việc không thông minh, không quý yêu chất liệu, không làm trí tuệ có tương quan đúng đắn với hình thể đậm đặc bên ngoài, đã khiến hai ngàn năm qua cho ra một thế giới không được quản trị tốt đẹp, dẫn tới tình trạng nghiêm trọng ngày nay. Người chịu ảnh hưởng cung sáu cho ra việc làm thiếu thông minh ở cõi trần, tạo nên sự phân rẽ giữa khoa học và tôn giáo, tương tự như chứng tâm thần phân liệt nơi người (schizophrenia). Sự phân rẽ ấy do các giáo sĩ tạo nên khi xưa mà không ai khác, nó được vạch ra do người có khuynh hướng thần bí, có óc mơ mộng xa xôi mà thiếu óc thực tế, và cũng do người sùng mộ cuồng tín một ý tưởng nào đó, không thể thấy được

Điều này đã được khoa học và khoa tâm lý nhận ra ngày nay, được một số giáo sĩ đề nghị cách sửa đổi như cho rằng không nên đòi hỏi con người phải tin việc thụ thai đồng trinh, và quan niệm chật hẹp không đúng về người nữ, là hoặc hết sức thánh thiện ('Em hiền như ma soeur' !) hoặc là yêu nữ cám dỗ. Ta chỉ nói tổng quát, vì bên cạnh sự đáng tiếc thì cũng có người đẹp đẽ không vướng mắc sự dại khờ này hay khuynh hướng chia rẽ. Tính chung thì tôn giáo đã tạm thời chia cách hai ý niệm lớn là tinh thần và vật chất trong tư tưởng và giáo huấn của họ, và bởi thế đẩy khoa học và tôn giáo ra xa khỏi nhau. Công việc của người phụng sự trong thời đại mới là mang hai cực có vẻ đối nghịch này lại với nhau, chứng tỏ rằng vật chất và tinh thần không đối kháng nhau, và khắp trong vũ trụ chỉ có một chất liệu tinh thần, hoạt động và sinh ra các dạng thức hữu hình bên ngoài.
Khi ta cho rằng một hình thể và một hoạt động là xấu xa, đó chỉ vì cái động lực thúc đẩy nằm trong hình thể và sinh ra hoạt động có định hướng sai, có tính ích kỷ và bị sử dụng không đúng. Nơi đây ta nhắc lại hai chân lý căn bản quan trọng trong huyền bí học tân thời:
● Năng lực theo sau tư tưởng,
● Động lực chân chính sinh ra hành động chân chính và hình thể đúng đắn.
Trong đa số trường hợp người đệ tử cung sáu hoạch định công việc của mình, đem ý tưởng xuống tới cõi trung giới rồi ngưng ở đó, hướng tâm trí, sức sống, tư tưởng của mình vào nơi đây.  Anh được trí tuệ khích động, đôi khi có sự hướng dẫn của linh hồn, và tình cảm được thúc đẩy; nhưng tiềm lực của ước vọng và sự quyết chí thực hiện đã gặp khó khăn trong quá khứ vì động lực ban đầu bị ngưng lại ở cõi tình cảm. May sao khuynh hướng này được lực của những cung khác – theo luật tuần hoàn – can thiệp, bằng không tình trạng có thể tệ hơn rất nhiều.

Người đệ tử cung bẩy ngược lại sẽ mang năng lực xuống hẳn cõi trần. Với người đệ tử cung sáu, để có thể sử dụng năng lực cung bẩy hữu hiệu, họ có sự chuẩn bị bằng cách có vài kiếp mà cung của phàm ngã là cung bẩy, trước khi có thể mang xuống cõi trần mộng mơ và viễn ảnh của mình. Người cung bẩy không gặp vấn đề như vậy, do sự hiểu biết về nghi thức tức việc sắp xếp và liên hợp những năng lực được sử dụng, hiểu biết chú ngữ và bằng cách dùng tiềm lực của âm thanh, người đệ tử trong tương lai làm việc để tạo dựng thế giới mới với nền văn minh và văn hóa mới.
Nói thêm về việc sử dụng âm thanh, đây là ảnh hưởng của cung bẩy đối với tâm thức quần chúng trong thời đại này, biểu lộ qua việc dùng khẩu hiệu hô hào, và những câu phổ thông 'catch phrases'. Chúng được dùng để mang lại kết quả, và để lôi cuốn con người vào hành động của đám đông. Lấy thí dụ trong những cuộc tranh cử thì ứng viên hay các đảng phái thường nêu ra khẩu hiệu hoặc những câu có tính khích động mà ngắn gọn, dễ nhớ hầu chiêu dụ cử tri. Đây là cách sử dụng sơ khai của chú ngữ. Dần dần sức mạnh của chú ngữ, tính trầm bổng, tiềm lực sẽ được nghiên cứu, và con người cuối cùng sẽ tạo tác chúng, sinh ra nhiều hình thức thể hiện.
Kinh thánh có câu 'Thượng đế phán và thế giới được tạo ra', nó có nghĩa giản dị là công thức cho việc sáng tạo thế giới được tóm gọn trong ngôi Lời, mà Thượng đế cất tiếng thì kết quả sẽ tới không tránh được. Nơi con người và ở mức độ nhỏ hơn lắm lần, điều này sẽ diễn ra trong thời đại tới tuy vào lúc này đối với chúng ta, sự việc xem ra kỳ lạ khó tin.
Ta thấy ngay là người đệ tử cung bẩy nắm trong tay rất nhiều quyền hành, vì lý do đó mọi huấn thị cho họ đều nhấn mạnh đến việc có động cơ trong sạch. Trong quá khứ, nhấn mạnh là về thân xác thanh khiết cho người đệ tử cung sáu. Chuyện không tránh được là họ đưa ý tưởng đi xa tới mức cuồng tín, nhấn mạnh vào đời sống độc thân, đời khổ hạnh và những luật lệ khe khắt trong đời sống thể chất, thường khi coi là tội lỗi điều gì tự nhiên, trời sinh. Đây là giai đoạn cần thiết cho sự phát triển của họ, vì điều thiết yếu là cõi trần cần trở thành yếu tố lớn hơn trong tâm thức họ (vốn mộng mơ nơi cõi trung giới), và họ cần tách khỏi chuyện trừu tượng (là điều dễ làm nhất cho họ) để chú tâm đến cuộc sống cõi trần, do tác động của luật 'năng lực theo sau tư tưởng'. Nhờ vậy, thái độ của họ với sự sống có thể hóa thực tiễn hơn, và có được sự hòa hợp cần thiết giữa các thể.

Trong tân kỷ nguyên, người đệ tử sẽ đặt nặng vấn đề về trí tuệ, vì nó chi phối tư tưởng và lời nói. Mọi công việc huyền thuật đều dựa trên năng lực của tư tưởng và của lời nói, và sự trong sạch của tâm trí cùng động lực vì vậy được xem là một điều thiết yếu căn bản.
Ảnh hưởng cung bẩy còn sinh ra trường huyền bí học tây phương, theo ý lạ lùng và bất ngờ, giống như động lực của cung sáu đã sinh ra trường huyền bí học đông phương. Trường sau mang ánh sáng xuống cõi trung giới còn trường đầu sẽ mang nó xuống cõi trần. Những huấn thị đông phương đã ảnh hưởng Thiên chúa giáo, chỉ đường và ấn định đường lối phát triển của tôn giáo này. Thiên chúa giáo rõ rệt là một tôn giáo bắc cầu. Các vai trò này về sau sẽ đảo ngược, và 'ánh sáng ở Đông phương' sẽ lan tràn sang Âu châu và Mỹ châu.
Việc này sẽ đương nhiên mang lại sự tổng hợp cần có và nên có giữa hai con đường thần bí (mystic) và huyền bí học (occult), và rồi về sau đưa tới việc thành lập một đường đạo cao hơn, điều mà ta không có chữ diễn tả lúc này. Tuy nhiên ta có thể giải thích phần nào là như xưa kia con người đi bộ trên đường làng, tuân theo những qui luật của thời đại lúc bấy giờ, và ngày nay ta đi bằng xe hơi, xe lửa hay phi cơ để tới cùng một đích, thì người mai sau sẽ theo cùng con đường ấy, tới cùng một đích nhưng cách thức có thể khác, qui luật thay đổi và cách bảo vệ cũng khác đi. Qui luật có thể thay khác về chi tiết so với quá khứ, nhưng các luật căn bản vẫn quan trọng y vậy, không hề bị gác qua bên hoặc loại bỏ.đổi tùy lúc để cho chỉ dẫn dễ hơn và sự bảo vệ thích hợp. Việc huấn luyện đệ tử trong tương lai sẽ
Nói thêm về cung bẩy và thể sinh lực (thể phách), bởi cung bẩy quản trị thể này và lực cung bẩy càng ngày càng mạnh, ảnh hưởng của nó được thấy qua việc con người càng ngày càng chú ý đến sinh lực, sức khỏe. Việc nghiên cứu những tuyến nội tiết cũng sẽ được quan tâm nhiều hơn; hiểu biết bí truyền nói rằng chúng là sự biểu lộ bên ngoài nơi cõi trần của các trung tâm lực – hay luân xa, huyệt đạo – trong thể sinh lực; và tình trạng các tuyến hoặc hoạt động bình thường hoặc yếu kém là dấu hiệu cho tình trạng của những trung tâm lực ấy.
Vì thế, sẽ có nhiều khám phá có được trong các sinh hoạt này, và một khi thể sinh lực được nhìn nhận là có thật, và vai trò các trung tâm lực được nhận biết thì sẽ có cách mạng lớn lao trong y khoa, việc dinh dưỡng và quan niệm với sinh hoạt hằng ngày. Hiểu biết mới sẽ cho ra thay đổi rộng rãi trong cách làm việc, lao động, và trên hết thẩy là sinh hoạt giải trí của con người. Hai đường hướng có thể kể ra trong việc năng lực cung bẩy làm thay đổi thái độ con người với cuộc sống, và những cách sinh hoạt rất khác lạ sau này là:
● Sự kích thích thể sinh lực qua việc hướng lực đi đúng cách
● Sự phân phối đúng đắn sinh lực, do nghiên cứu khoa học.
Điều tương ứng nơi cõi trần với sinh lực nơi cảnh ether là tiền bạc, có giải thích rằng tiền bạc là sự cô đọng của sinh lực prana, như prana nuôi dưỡng thể sinh lực và gián tiếp là thể xác thì tiền bạc là chất nuôi dưỡng cuộc sống cõi trần, và khoa kinh tế là khoa học về điều nuôi dưỡng cuộc sống. Vì vậy, thế giới cũng quan tâm nhiều hơn về kinh tế học mà điều này không tránh khỏi, vì ngày nay hiện tượng toàn cầu hóa (globalisation) và những công ty đa quốc khiến kinh tế trở thành khoa quan trọng, và không một nước nào có thể có nền kinh tế độc lập với nước khác. Tất cả liên đới với nhau, lúc thịnh vượng cũng như khi có khủng hoảng tài chánh, và kinh tế trở thành một vấn đề quốc tế.

Ảnh hưởng cung bẩy còn khiến khoa học phát triển và có những khám phá khác. Vào cuối thế kỷ 19, khoa học có thật nhiều tiến bộ về nhiều mặt như vật lý, hóa học, thiên văn v.v. và có ý kiến cho rằng không chừng khoa học đã phát triển hết mức của nó; nhưng sang thế kỷ 20, những khám phá như về cơ cấu nguyên tử đã mở đường cho nhiều tiến bộ mới. Tương tự vậy, trong tân kỷ nguyên ta cũng sẽ có một nền khoa học mới, nghiên cứu về cảnh giới vô hình. Càng ngày sẽ càng có nhiều người có thông nhãn thấy được những cõi thanh, và chứng cớ của đông đảo người không thể bị phủ nhận được; họ có thể làm việc và sống cùng lúc trong thế giới vô hình và hữu hình.
Khi khoa học nhìn nhận có những giác quan thêm vào với ngũ quan, có một thế giới nguyên nhân bên cạnh thế giới hiện tượng thì khoa học bước vào một kỷ nguyên mới. Sẽ có biết bao điều được khám phá, và chủ nghĩa duy vật sẽ mất dạng. Ngay cả chữ 'duy vật' cũng trở nên cổ lỗ sĩ, và người trong tương lai sẽ thấy ngộ nghĩnh khi xem xét trở lại tầm nhìn giới hạn của thế giới ngày nay, tự hỏi tại sao ta lại suy nghĩ và cảm xúc như thế.
Cung bẩy quản trị loài kim thạch, do đó một dấu hiệu lực của cung bẩy bắt đầu tác động là con người khám phá ra hiện tượng phóng xạ hồi thế kỷ trước. Nơi con người, tương đương với hiện tượng phóng xạ là việc tư tưởng lan tràn, túa ra mọi hướng khích động mọi người trên đường đi của nó. Nói tổng quát và về mặt bí truyền thì bao thế kỷ qua trong lịch sử nhân loại, chiến tranh xẩy ra đều luôn luôn do óc muốn chiếm đoạt và sức mạnh của các quốc gia. Rồi dần dần, các động lực ấy thay đổi và gần đây, chiến trận diễn ra vì những cớ cao hơn một chút, lòng ham muốn chiếm hữu thêm đất đai, mở rộng lãnh thổ không còn là động lực đích thực và chính yếu nữa. Thay vào đó nguyên nhân của chiến tranh là hoặc vì nhu cầu kinh tế, vì một hay nhiều nước muốn áp đặt một ý thức hệ lên nước khác, hoặc muốn bãi bỏ một hệ thống tư tưởng, chính phủ, giáo điều cản trở sự phát triển của con người. Dù là vì lý do nào, ta dễ dàng nhận thấy tư tưởng đóng vai trò chính yếu ở đây, tức có hai điều đáng nói:
● Một là trí năng nẩy nở tới mức trở thành yếu tố mạnh.
● Hai là sự kiện tư tưởng lan tràn như phóng xạ phát ra trong môi trường, được quần chúng hưởng ứng.
Những hiểu biết này chỉ có giá trị nhỏ hiện giờ, ý nghĩa của nó sẽ hóa rõ ràng hơn theo với thời gian.

 

Theo: Esoteric Psychology, vol. II, Alice A. Bailey.

 

Geese