TRỰC GIÁC (2)

 

 

Định Nghĩa 

Trực giác theo nghĩa thông thường là có được sự hiểu biết nhờ khả năng bên trong, không qua óc lý luận. Trực giác nẩy sinh khi khả năng của hạ trí đã được sử dụng, thăm dò và kiệt lực. Khi đó, và chỉ khi đó, trực giác mới bắt đầu làm việc. Nó là quan năng của sự tổng hợp, khả năng suy nghĩ theo tổng thể, và liên quan đến thế giới của nguyên nhân so với thế giới hiện tượng ta biết.
Trực giác là sự hiểu biết không sai chạy về các việc. Trực giác là một phần trong việc phát triển phần thiêng liêng con người, làm mở rộng tâm thức và có liên hệ chặt chẽ với óc tưởng tượng, nhất là tưởng tượng có tính sáng tạo. Chuyện bắt đầu từ việc con người có dục vọng ở cõi trung giới; dục vọng ấy được chuyển hóa thành ước nguyện. Nay ước nguyện kích thích trí não, và trí não cộng với tưởng tượng theo với thời gian thành tác nhân sáng tạo dẫn tới trực giác ngày càng lớn mạnh. Bằng cách này con người tiếp xúc với chân nhân. Óc tưởng tượng vì vậy hết sức quan trọng trong việc mở trực giác. Có một chữ đồng nghĩa với trực giác là cảm nhận tinh thần, hay nhậy cảm tinh thần.
Sự phát triển trực giác đi qua các giai đoạn sau:
– Bản năng tinh thần là phần thấp nhất của trực giác.
– Óc thông minh tinh thần chỉ trí não đã tỏ ngộ
– Cảm nhận tinh thần chỉ trực giác.
Ta cũng có thể nhìn thứ tự này theo cách khác.
– Bản năng
– Óc thông minh, là sự thăng hoa của bản năng
– Trực giác, là sự thăng hoa của óc thông minh, hay là bản năng ở mức cao hơn.
Như thế, trí năng hay chính xác hơn là trí cụ thể phải được khơi dậy và sử dụng khéo léo, óc trừu tượng được dùng thành thạo trước khi trực giác có thể được phát triển; nói khác đi người ta cần huấn luyện trí năng nếu muốn phát triển trực giác, và lời khuyên cho điều này là nên học toán, đây là môn tuyệt hảo cho việc ứng dụng óc trừu tượng.
Một trong các dấu hiệu của việc bắt đầu mở mang trực giác là sự nhìn nhận các ý tưởng và lý tưởng cao hơn. Nói rộng ra thì với trình độ hiện giờ của con người, phần lớn bản năng nằm trong tiềm thức, vậy tới ngày giờ phần trí năng mà ngày nay ta ý thức, cũng sẽ chìm vào tiềm thức và trực giác khi ấy thế chỗ. Cho đa số người thì họ chưa thể có và dùng trực giác vào lúc này, vì quan năng ấy nằm ở cõi siêu thức so với mức của họ.
Những chuyển biến trong cõi tâm thức, từ tiềm thức sang ý thức rồi thức, cốt yếu là những nấc của việc hòa hợp cái thấp vào cái cao (bản năng nhường chỗ cho trí năng), rồi cái cao vào điều cao hơn nữa (trí năng dẫn đến trực giác), sinh ra vài khó khăn tạm thời cần được giải quyết. Thực tế là khi một ai nhận ra phần cao hơn trong người và cần hòa hợp nó, cần biểu lộ nó trong đời, thường khi họ có tự ti mặc cảm. Ấy là phản ứng của điều thấp đối với điều cao, anh cảm thấy sự vô vọng do việc so sánh giữa sự thành đạt anh đã có với điều có thể đạt tới, và cảm thấy thất bại cùng sự bất lực. Lý do cho cảm nghĩ này là mới đầu, viễn ảnh xem ra quá đỗi to lớn và anh cho rằng mình không thể đạt được. Dầu vậy khi hiểu nguyên nhân một cách khôn ngoan thì người ta sẽ mau lẹ có tầm nhìn đúng thực hơn.
Trực giác là một phần việc của trí năng mà khi sử dụng đúng đắn, cho phép ta thấu hiểu thực tại rõ ràng, không bị ảo ảnh và ảo tưởng trong ba cõi chi phối. Ai có trực giác sẽ có thể có hành động trực tiếp và đúng cách vì họ tiếp xúc được với Thiên Cơ với sự kiện thuần túy không bị pha trộn và với ý tưởng không bị làm cong quẹo, do không có huyễn tưởng và do nó đến thẳng từ Thiên Trí. Ta sẽ hiểu rõ hơn sự quan trọng của việc này khi nhìn rộng hơn và thấy công việc diễn biến ra sao, cùng sự liên hệ của các giai đoạn trong việc làm chung.
Nói tổng quát thì khi trực giác phát triển, thế giới sẽ nhìn nhận Thiên Cơ và điều ấy là thành đạt lớn lao nhất cho thời đại này. Khi Thiên Cơ được cảm biết thì người ta có nhận thức về sự duy nhất của vạn vật, sự tổng hợp mọi điều trong cuộc tiến hóa, và mục đích thiêng liêng chung. Người ta sẽ thấy tất cả sự sống và hình thể một cách đúng đắn; có ý niệm đúng về các giá trị và thời điểm.
Khi con người tự mình trực nhận được Thiên Cơ thì nỗ lực xây dựng thành điều không tránh được và không có phí hành động. Việc các tổ chức bí truyền trên thế giới phí phạm nỗ lực và có hành động khờ dại là do chỉ ý thức phần nào Thiên Cơ, cùng sự diễn giải nó của người thiếu hiểu biết.

Cách Phát Triển

Sự phát triển trí năng ghi ở trên chỉ là một cách nói, cho biết rằng con người cần trụ vào cõi trí, có trí năng mạnh mẽ và hướng vào thực tại tinh thần. Nó cũng muốn nói là anh học và biết làm chủ cái trí, chú tâm vào những cõi cao hơn. Khi có sự chủ ý vươn lên cõi cao bằng cách tham thiền, phụng sự, làm việc theo Thiên Cơ thì sẽ có đáp ứng từ trên xuống ta gọi là tỏ ngộ hay sự sáng
Đó là nói tổng quát, nay ra ngoài lề một chút thì ta nên biết cách làm việc của những đấng Cao Cả. Sách vở TTH nói nhiều về thiên cơ, cho ra hiểu biết về các giống dân tương lai. Từ đây người ta sinh ra ý muốn biết về điều này, về việc có người trên các hành tinh khác hay chăng, và có những suy đoán này hay kia. Chuyện nghe thích thú nhưng thực ra vô ích và vô dụng, khích động óc tưởng tượng quá độ, suy nghĩ về chi tiết không sao kiểm chứng được, mất thì giờ cho chuyện vẩn vơ, cho ảo ảnh của tư tưởng chưa giác ngộ.
Ta nên có thói quen nhìn nhận rằng chỉ phần nào của thiên cơ liên can đến việc ứng dụng ngay lúc này thì mới đáng chú ý và cần thiết. Việc tuân theo mục đích và phận sự hiện thời là cung cách rõ rệt nơi ai đã học cách làm việc. Những Vị biết về thiên cơ nhiều hơn ta không để trí óc các Ngài suy gẫm về giả thuyết không thể chứng minh được tuy có thể có về sự phát triển tương lai của con người. Các Ngài chú tâm vào chuyện gì cần phải làm vào lúc này, vậy có lời khuyên là ta cũng nên xử sự như vậy.
Tham thiền hay được xem là cách để tiếp xúc với linh hồn, dầu vậy người ta dễ quên là sự tiếp xúc này rất thường khi có được khi tâm trí lặng lẽ suy nghĩ, do một đời quên mình phụng sự, và bằng sự quyết tâm làm chủ phàm nhân để nó có thể trở thành đường kinh đúng thực cho chân nhân. Khi ba cách phát triển ấy được áp dụng trọn vẹn và thành lối sống trong đời hay thói quen cả đời, khi ấy tham thiền có thể dùng như là kỹ thuật để phát triển trực giác.
Chỉ dạy bí truyền cho ta hay rằng mọi tính chất của Thiêng liêng tự chúng gồm ba phần, vậy ta cũng có thể chia năng lực trí tuệ từ Thiên Trí làm ba.
– Hạ trí hay trí cụ thể
– Thượng trí hay trí trừu tượng, liên hệ với thế giới của ý tưởng
– Trực giác hay óc thuần lý, là khía cạnh cao nhất của trí năng siêu nơi người.
Trí cụ thể là quan năng để tạo hình tư tưởng, và nhắc lại tư tưởng là vật. Trí trừu tượng là quan năng tạo mẫu, làm việc với mẫu hay sơ đồ mà theo đó hình thể không tạo theo. Trực giác là quan năng cho phép con người tiếp xúc với Thiên Trí, nhìn được thiên cơ tổng hợp, nắm bắt lấy Thiên Ý hay một chân lý căn bản và thuần khiết. Mục tiêu của mọi công việc cho người chí nguyện là hiểu các tính cách này của trí tuệ và học cách làm việc với nó. Công việc của anh có thể tóm tắt như sau.
1- Anh phải học suy nghĩ, khám phá rằng anh có vận cụ gọi là trí năng, và tìm hiểu về khả năng và năng lực của nó.
2- Bước kế là học về diễn trình của tư tưởng và khuynh hướng tạo hình, khám phá các tư tưởng trong hình tư tưởng thiêng liêng, diễn tiến của thế giới, để từ đó học hợp tác với thiên cơ, tạo hình tư tưởng thuận theo các tư tưởng này. Anh phải học cách bước vào thế giới của những tư tưởng thiêng liêng ấy, với khuôn mẫu mà mọi vật theo đó được uốn nắn, tạo hình.
3- Từ cái lý tưởng này anh phải tiến bướ sâu hơn nữa cho tới khi bước vào cõi thuần trực giác. Chừng ấy anh có thể nhận được chân lý tại nguồn của nó; anh trực cảm cũng như là lý tưởng hóa, nhậy cảm với tư tưởng thiêng liêng và về sau anh gọi đó là trực giác. Chúng làm trí tuệ phong phú và anh đặt trọn công việc cùng xử sự mọi chuyện dựa theo trực giác của mình.
Diễn giải các giai đoạn trên theo ngôn ngữ đông phương, nó gồm các bước:
– Định trí, là việc chú tâm hay hướng hạ trí tới điều cao hơn. Khuynh hướng bình thường về việc tạo hình tư tưởng tạm thời bị ngăn chặn.
– Tham thiền, cái trí được giữ trong sự sáng và từ nơi đó anh bắt đầu ý thức về thiên cơ
– Quán tưởng, anh có thể bước vào sự thinh lặng, tiếp xúc với thiên trí, bắt được tư tưởng cao trong tâm thức thiêng liêng và biết.
Đây là việc làm trước mặt của mỗi người chí nguyện nên điều cần thiết là anh có hiểu biết về các vấn đề trí tuệ mà mình có, tính chất của chúng, các phương tiện mà anh phải sử dụng.
Có nhiều cách để mở trực giác, và một trong những cách mạnh nhất và hữu dụng nhất là tìm hiểu và diễn giải các biểu tượng. Nói giản dị thì biểu tượng là sự hiển hiện của điều không hiển hiện, và sức mạnh của nó có thể thấy qua việc quân nhân sẵn sàng hy sinh thân mình cho điều mà lá cờ tượng trưng. Còn nói theo đề tài của ta thì biểu tượng là hình thể bên ngoài và hữu hình cho thực tại tinh thần, và khi khám phá dễ dàng cái thực tại đằng sau một hình thể đặc biệt nào, sự kiện ấy chứng tỏ trực giác đang được khai mở. Việc học hỏi này sẽ gây căng thẳng cho những vùng chưa được khơi động trong não, và khiến các tế bào não ở đó thức dậy; đây là giai đoạn đầu tiên.
Quyển Glamour: A World Problem đưa ra chỉ dẫn cặn kẽ việc tập mở trực giác bằng cách dùng biểu tượng, ta không có chỗ để đem vào bài này nên xin bạn tìm đọc thêm.

Tính Chất

Trực giác là sự thấu hiểu không sai lạc một điều gì, nắm bắt lấy nguyên nhân và hệ quả cùng lúc, thấy tại sao, từ đâu mà ra và mọi việc dẫn tới đâu. Đó là sự thấu hiểu tổng hợp, sự tiếp nhận cùng lúc mà ta không thể nào dùng lời để tả. Trực giác cho cái nhìn toàn cảnh, đi thẳng vào tâm vấn đề, hiểu ngay vì sao một việc là như thế mà không phải khác hơn; và chẳng những thấy mà ta còn cảm nhận mình là một với sự việc, sự thông hiểu và nhận thức trở thành là một, là ý thức, tâm thức. Chính vì vậy mà chữ và lời luôn trở thành thiếu sót khi tìm cách diễn tả trực giác.
Óc tưởng tượng sáng tạo là một tính chất của trực giác. Óc thuần lý biết nguyên do tại sao, và thấy rõ ràng cái đích. Trực giác là sự tiếp thu các ấn tượng tinh thần, nhờ sử trực giác iác. Chuyện được giải thích là khi ta không còn bị ràng buộc vào nơi chốn hay người nào, cảm nhận trực giác của ta sẽ nhờ vậy được giải tỏa và ta sẽ nhìn theo thực tại mà không theo hình thức, dù là hình thức hay thanh khiết. Trực giác chính yếu là sự tăng trưởng về khả năng cảm nhận, và sự đáp ứng bên trong với linh hồn. Điều này cần được vun trồng chu đáo và không nên quan tâm về thời gian.
Khi chân nhân và thể tình cảm thuộc cùng một cung, chuyện làm công việc của chân nhân dễ dàng hơn, người ta có thấu hiểu bằng trực giác, và có khả năng truyền ánh sáng cùng tình thương sang cho người khác.
Bản năng tinh thần nói về việc trực giác diễn giải và soi sáng trí tuệ, là tính chất thấp nhất của trực giác, kế tiếp là óc thông minh tinh thần, và cao nhất là bản năng trực giác.
Trực giác là óc thuần lý. Có sự hiểu lầm là lời dạy ta phải đồng hóa với người khác muốn nói ta phải hoàn toàn đồng hóa với hết mọi kinh nghiệm, tâm tình, và phản ứng của họ. Chuyện không có nghĩa như thế, và không nên là như thế. Nó muốn nói qua trực giác ta đồng hóa mục tiêu của linh hồn ẩn sâu bên dưới, và khả năng diễn giải, giải thích hiện tại. Tình thương chân thực khi ấy thay cho tình cảm, lòng từ thay cho lòng thương hại, và cảm thông thay cho sự lo lắng một chịu đựng.
Trực giác liên quan tới hiểu biết, trong tôn giáo ta gọi hiểu biết đó là chân lý và trong khoa học đó là các phát minh, khám phá; chuyện muốn nói quan năng sử dụng trong mọi ngành hoạt động của trí tuệ mà không chỉ giới hạn vào việc chi huyền bí, tinh thần. Cái trực giác hướng dẫn ai suy nghĩ giỏi dang vào những ngành học hỏi mới của con người thì chỉ là mở đầu cho sự toàn tri là đặc tính của chân nhân. Sự thật về mọi vật có đó và ta gọi nó là sự toàn tri hiểu biết không sai chạy, hiểu biết đúng.
Khi con người nắm được một phần của nó và đem nó vào tâm thức của nhân loại, ta gọi đó là công thức của một luật, sự khám phá điều này hay điều kia là tiến trình trong thiên nhiên. Từ trước tới nay chuyện diễn ra chậm chạp, từng việc rời rạc với nhau; nhưng chẳng bao lâu nữa sự sáng sẽ tràn vào, chân lý được tỏ lộ và nhân loại có hiểu biết của linh hồn. Lẽ tự nhiên là trước khi được vậy thì có suy đoán. Ai thấy viễn ảnh mà người khác không có cùng khả năng để thấy, bị xem là mộng mơ, không đáng tin. Khi nhiều người cùng có viễn ảnh thì người ta nhìn nhận là chuyện khả hữu, và khi chính nhân loại thức tỉnh, mở mắt để thấy thì người ta không gọi đó là viễn ảnh mà là sự kiện và luật được nêu ra. Chuyện đã xẩy ra như thế trong quá khứ, và đó cũng là diễn tiến trong tương lai.
Hiện nay ta có khối đông người có học thức mà không có hiểu biết, chưa phân biệt được giữa điều gì lý trí nắm bắt được, điều gì con mắt của trí tuệ có thể thấy được, với điều gì mà chỉ có óc trừu tượng có thể suy xét và biết được. Óc trừu tượng cuối cùng sẽ hòa hợp vào trực giác để nhìn vào thế giới của linh hồn. Trực giác sử dụng thượng trí trừu tượng như là phương tiện và khi có sự hòa hợp được xẩy ra trọn vẹn hạ trí cụ thể chỉ có vai trò là truyền ý tưởng hay diễn giảng. Ngay cả tư tưởng cụ thể hay trừu tượng cũng trở thành dư thừa và chỉ có sự tuôn tràn của trực giác với dụng cụ là trí năng.
Trực giác là quan năng của linh hồn vậy chuyện có nghĩa là con người cần nhận biết và tiếp xúc với linh hồn  trước khi trực giác có thể làm việc; và chỉ ai có tiến xa mới phân biệt được giữa chuyện tâm linh cõi thấp với trực giác. Một chỉ dẫn là trực giác luôn luôn hướng về sinh hoạt nhóm mà không can dự vào chuyện cá nhân; nó không vạch cho thấy con đường hầu đạt tới tham vọng riêng, hay cách mà ước muốn có tiến bộ ích kỷ có thể được mãn nguyện. Trực giác cho ta bước vào thế giới của ý nghĩa, là điều nằm ẩn sau thế giới hiện tượng, và do vậy phá tan ảo tưởng. Ta thấy và biết được chân lý, hình thể trong thế giới hiện tượng được thấy chỉ là biểu tượng cho Thực tại tinh thần bên trong.
Trực giác có liên hệ với minh triết nên ta nói thêm một chút về hai điều ấy ở đây. Trong quyển Tiếng Vô Thinh The Voice of the Silence, cuộc tiến hóa của con người được ví như đoạn đường qua ba phòng, trong đó:
– Phòng Học Tập cho ra hiểu biết hay kiến thức, nó có thể được xem là tổng số các khám phá và kinh nghiệm của nhân loại, những điều có thể nhận biết bằng ngũ quan, được sắp đặt, phân loại, định nghĩa bằng trí người. Nó là tổng hợp của nghệ thuật và khoa học. Nó liên quan đến tất cả những gì về sự tạo dựng và phát triển phần hình thể của vật; như thế nó liên quan đến vật chất của cuộc tiến hóa.
– Phòng Minh Triết cho ra minh triết, liên quan đến việc phát triển của sự sống bên trong hình thể, với diễn trình của tinh thần xuyên qua các vận cụ luôn thay đổi, và với sự mở rộng tâm thức liên tục từ kiếp này sang kiếp kia. Nó làm việc với sự sống của cuộc tiến hóa. Vì nó liên quan đến bản chất của vật mà không phải với chính các vật, sự trực nhận - là nhận thức bên trong - mà không phải óc lý luận mới có thể phân biệt giữa cái giả và cái chân, chuyện thật và chuyện không thật. Mà còn hơn thế nữa, vì nó còn là khả năng ngày càng tăng của con người cho ta bước vào Thiên Trí, ý thức phần thâm sâu của vũ trụ muôn hình vạn trạng vĩ đại, thấy được mục tiêu, và hòa hợp càng lúc càng nhiều với chuyện cao hơn. Đó là sự ý thức về thế giới nội tâm và thế giới hữu hình bên ngoài.
Minh triết là khoa học của tinh thần, cũng như kiến thức là khoa học của vật chất. Kiến thức có tính chia rẽ và liên quan đến thế giới hữu hình; còn minh triết thì tổng hợp và có nét tinh thần. Kiến thức phân biệt, chia rẽ, minh triết kết hợp, hòa hợp. Minh triết liên quan đến chân ngã, kiến thức là về điều không phải là chân ngã.

Tầm Quan Trọng

Trí thông minh cao độ có thể làm trực giác bị lu mờ. Viễn ảnh mà ta nên quan tâm là ý thức được điều gì linh hồn biết và thấy, nhờ trực giác. Quan năng này chỉ dùng được một cách thông minh và hữu ý khi ta không còn bận tâm đến phàm ngã, và người tiến xa sẽ bắt đầu làm việc để khiến viễn ảnh hiển hiện ở cõi trần. Đối với họ viễn ảnh trở thành sự việc quan trọng mà mọi nỗ lực của họ hướng về đó. Anh không cần ai tỏ lộ Thiên Cơ cho anh hay, vì anh biết, và dành trọn đời mình cho việc biến viễn ảnh thành thực tại.
Trong giai đoạn đầu của việc phát triển, con người làm việc trong cõi ý nghĩa; khi tiến hóa hơn họ chủ ý sinh hoạt trong cõi nguyên nhân, và với ai tiến xa họ làm việc trong cõi tự tại - being. Việc phân chia làm ba giai đoạn là nhằm tránh nhấn mạnh quá đáng tới các bậc chứng đạo (initiation, điểm đạo). Điều sau được bàn tới nhiều trong các nhóm bí giáo, và nêu ra như là sự khuyến dụ cho ai muốn làm đệ tử, cũng như ai ưa thích chuyện huyền bí và nặng phần tình cảm thích nói về sự việc. Dầu vậy, tốt hơn ta nên chú tâm vào thực tại rõ ràng là ý nghĩa, nguyên nhân và tự tại.
Điều thấy trong sách vở về chứng đạo là sản phẩm của cái trí cụ thể, cho ảnh hưởng kết cứng, sinh ra kết quả sai lạc; chúng gợi nên lòng ích kỷ tinh thần, cô lập, cũng như là óc tò mò chuyện cõi trung giới. Cách mới mà ta đưa ra ở trên kích thích linh hồn và óc trừu tượng, và chót hết là trực giác. Nó không rực rỡ lôi cuốn phàm nhân, nhưng sẽ cho ra kết quả có tính sáng tạo hơn, và dẫn người sơ cơ đi trên đường an toàn hơn, có ít thất bại và thất vọng.
Việc mở trực giác còn có ý nghĩa cấp bách hơn khi ta được dạy rằng tất cả các nhóm dự vào công việc bí truyền có phận sự - dharma (thiên trách) phải làm, và người ta nên biết phận sự ấy để hợp tác một cách thông minh. Vậy thì vào lúc này, đó là việc khai mở trực giác; nhân loại đang phát triển hạ trí hay trí cụ thể mau lẹ mà nếu đi quá mức sẽ mang lại nguy hiểm cần tránh.
Khoa học nói rằng còn có hằng ngàn tế bào thần kinh neuron trong não ở dạng tiềm ẩn chưa được sử dụng, và người trung bình chỉ mới dùng một phần nhỏ khả năng của mình. Vùng não quanh tùng quả tuyến (pineal gland) có liên hệ với trực giác, và người tế bào này cần phải được khơi dậy. Khi chân nhân làm chủ được con người, ta có cảm nhận trực giác, sự cảm thông tâm lý đúng nghĩa người khác, tức cảm thông theo nghĩa huyền bí.
Trước hết, ta không nên lầm lộn trực giác với một số điều. Trực giác không có liên hệ chi với chuyện tâm linh, dù cao dù thấp; việc thấy được linh ảnh, nghe được tiếng Vô Thinh, thấy hớn hở với bất cứ chỉ dạy loại nào đều không muốn nói đó là do trực giác mang lại. Trực giác là sự thông hiểu tổng hợp, là đặc tính của chân nhân và chỉ có thể có khi chân nhân hướng tới phàm nhân đã hòa hợp ba thể xác, tình cảm và trí với nhau. Trên thực tế, dân gian nói rằng người nữ có trực giác mạnh hơn người nam, tuy nhiên đó không phải là trực giác tinh thần ta nói ở đây và cần được phát triển, mà nhiều phần đó là trực giác bản năng. Hai cảm nhận khác nhau ra sao ? Bản năng ghi nhận bằng huyệt đan điền (solar plexus) là huyệt mà hầu như mọi người biết sử dụng thành thạo, còn trực giác dùng huyệt đầu là huyệt đa số người chưa khai mở, và trực giác đúng nghĩa luôn có tính đại đồng mà không hề có tính cá nhân.
Trực giác là sự nắm biết trọn vẹn tính đại đồng và khi có thể hiện thì cảm giác chia rẽ hoàn toàn mất hẳn. Ở mức cao nhất trực giác còn được gọi là Tình thương Đại đồng, không liên can gì với tình cảm thông thường hay phản ứng thân ái, mà đó là sự đồng hóa, nhập một với mọi chúng sinh. Khi đó người ta biết lòng từ chân thật là sao, khi đó không thể nào còn lời chỉ trích và chỉ khi đó ta mới thấy được mầm thiêng liêng tiềm ẩn trong mọi hình hài sắc tướng.
Trực giác tự nó là ánh sáng và khi linh hoạt, ta sẽ thấy thế giới là ánh sáng và các thể thanh của vạn vật dần dần trở nên rõ ràng. Việc này dẫn tới khả năng tiếp xúc được sự sáng là tâm trong mọi hình thể, và do đó tạo nên mối liên hệ thiết yếu khiến cho cảm tưởng tự cao và chia rẽ dần dần mất đi. Trực giác vì vậy khi linh hoạt mang lại ba điều.
a– Tỏ ngộ - Illumination làm soi sáng trí não, là ánh sáng của trí thông minh. Khi sự sáng trong con người được khơi dậy thì ta nhận ra Sự Sáng trong thế giới, cái Thực Tại luôn có đó từ trước tới nay. Con người nhận ra được chính mình, kinh nghiệm mình là một trọn vẹn với Thiên Trí, một phần của Sự Sống chung.
b– Cảm thông - Understanding, chỉ khả năng không đồng hóa - vốn đã c có từ lâu - với hình thể.
Nói thêm thì chuyện dễ hơn cho ai có nhiều tính cung một trong thành phần cung của mình. Vấn đề là rút lui theo nghĩa bí truyền mà cùng lúc tránh cảm tưởng chia rẽ, cô lập và lòng tự tôn. Ai cung một dễ chống lại khuynh hướng đồng hóa mình với của khác, tuy nhiên lòng cảm thông chân thật gồm việc có khả năng vạn vật nhiều hơn nhưng cùng lúc duy trì lòng xả kỷ. Tính xả kỷ này có thể dễ dàng có được khi không có khả năng thương yêu, khi có quan tâm ích kỷ đến sự thoải mái của riêng mình hoặc vật chất, trí não hay tinh thần, và trên hết thẩy là tình cảm. Người cung một e sợ tình cảm và coi khinh nó, nhưng đôi khi họ cần có cảm xúc trước khi có thể dùng sự nhậy cảm theo đúng cách
Cảm thông nhờ trực giác luôn luôn tự nhiên mà có. Khi cần phải lý luận để có lòng thông cảm thì đó không phải là do trực giác sinh ra.
c– Tình thương.
Như đã nói ở trên, đây không phải là cảm tình thân ái, hay có tâm tính dễ thương; cả hai đều là hệ quả. Khi trực giác khai mở thì lòng thân ái và tính khả ái sẽ hiện rõ với dạng trong sáng, nhưng điều sinh r hai tính này lại là chuyện khác sâu xa và bao trùm hơn. Đó là việc nắm bắt, thấy trọn sự sống và nhu cầu của mọi sinh linh là trong kiện mà theo đó con người thiêng liêng làm việc. Nó gạt bỏ tất cả những gì tạo cản trở, chỉ trích, và gây chia rẽ. Nó không thấy có phân biệt nào, ngay cả khi nó biết là cần, và nó sinh ra trong lòng ai thương yêu như là chân nhân - mà không phải là cái tôi - sự đồng hóa lập tức với điều được yêu thương.
Ba tính chất trên của trực giác có thể được tóm gọn vào một chữ là tính đại đồng, hay cảm tưởng là Một cùng khắp. Khi có tính ấy, lập tức cái ‘Tôi’ lớn tiếng không còn là trung tâm, và tính luôn luôn liên kết mọi chuyện, mọi việc xẩy ra với mình là tâm điểm, biến mất. Lúc đó các tế bào não quanh tùng quả tuyến bao lâu nay ngủ yên giờ thức tỉnh và linh hoạt. Nhân của mỗi tế bào là một điểm sáng mà khi ánh sáng của trực giác được cảm nhận, ánh sáng của tế bào lập tức đáp ứng.

Ứng Dụng

Có những điều không thể nào giảng giải tách bạch hay được nhìn nhận, nó chỉ tới khi con người mở trực giác, nhìn sự việc trong ánh sáng trong trẻo của trực giác. Từ đây, một trong các bài học ta cần học là trí não của ta khi chưa đáp ứng với trực giác tiềm ẩn, ta không thể nào bảo đảm là một chuyện sẽ như thế này, hay thế kia, thế nọ; ta cũng không thể nói chuyện là như vầy hay không phải vậy; khi chưa được huấn luyện đúng cách thì ta không thể có tư cách để phủ nhận hay xác quyết điều gì.
Thái độ của ta nên là tìm hiểu một cách hợp lý, và có quan tâm như của triết gia xem xét sự việc, sẵn lòng chấp nhận một giả thuyết là nó có thể có nhưng chưa muốn chấp thuận nó như là chân lý đã được chứng minh cho tới khi nào tự chúng ta biết chắc về nó và cảm biết trong chính chúng ta. Ngoài ra ta không nên đi xa hơn thế. Áp dụng điều đó vào các chỉ dẫn đưa ra lúc này, trong sách vở hay tràn lan trên internet là hai nhận xét sau:

  1. Ngôn ngữ che khuất chân lý mà không làm nó tỏ lộ. Nếu ai nhận ra chân lý ấy là vì trong lòng họ sẵn có chân lý soi sáng bước đường khi họ chậm chạp lần bước tiến lên.
  2. Có nhiều loại trí não, và chỉ dẫn đưa ra sách không phải sẽ thu hút được hết mọi người. Việc nên nhớ là tất cả mọi người là những đơn vị tâm thức thuộc một trong bẩy cung, như bẩy ánh sáng mầu khác nhau của quang phổ. Bẩy nhóm phụ đó cho ra quan điểm, tâm trí, cách thức khác nhau và đều đúng nhưng đại diện cho góc nhìn hơi khác một chút.

Khi ý thức trên đi kèm với các yếu tố khác như mức khác biệt trên đường tiến hóa, các dân tộc tính và đặc tính, sự khác biệt nằm sẵn bên trong mà sẽ lộ ra khi thân xác tương tác với môi trường, chuyện sẽ thấy rõ là không có một cách thức chung để tìm hiểu những đề tài tâm linh khó hiểu.
Một trong những điều mà trực giác khi đã phát triển có thể làm là phá vỡ ảo ảnh và ảo tưởng, và chuyện mà một nhóm người chí nguyện có thể làm khi trực giác đã vững là trợ giúp việc phá tan ảo ảnh của thế giới. Khi xưa, đức Phật khởi xướng việc này bằng sự giảng dạy Tứ Diệu Đế, cho tuôn tràn ánh sáng vào các vấn đề của thế giới. Chín trăm La Hán gia và tăng đoàn sắp xếp Tứ Diệu Đế thành giáo điều và triết lý khiến cho năng lực của tư tưởng chung trợ giúp mạnh mẽ chuyện phá vỡ ảo ảnh trên thế giới.
Lần này khi đức Chúa tái hiện Ngài cũng sẽ làm công việc trên, cùng với chin ngàn La Hán gia tấn công lần thứ hai ảo ảnh trên thế giới. Vì vậy ta chuẩn bị cho việc này và bởi chỉ có trực giác mới đẩy lui được ảo ảnh, ta có nhu cầu là huấn luyện và tập luyện để mở trực giác. Nhóm người với trực giác đã khai mở có thể được sử dụng để làm việc trên qui mô rộng lớn, bất cứ khi nào có nhóm thích hợp. Sự việc được cho hay để khuyến khích chúng ta có nỗ lực đều đặn và mau lẹ hơn.

Tân Kỷ Nguyên

Trực giác và sự phát triển của nó có ý nghĩa đặc biệt cũng như có hàm ý thúc hối vào thời điểm này. Ta đang bước vào tân kỷ nguyên và sự chuẩn bị đã bắt đầu từ thế kỷ trước trên khắp thế giới cũng như trong mọi tổ chức để thành hình các nhóm phụ trách việc mở màn thời đại mới. Một nhóm như thế có cơ hội làm đường kinh qua đó Thiên đoàn có thể làm việc, và các đấng Cao Cả có thể gửi tư tưởng của các ngài. Nhóm cũng được các ngài dùng để nâng cao nhân loại hiểu theo nghĩa bí truyền, và nhờ vậy trợ giúp sự tiến hóa ở mỗi cõi. Tùy theo sự đáp ứng của người trong nhóm ở khắp nơi mà tân kỷ nguyên đến mau lẹ ra sao.
Ai mong ước góp phần làm việc này cần phát triển trực giác và óc phân biện, khả năng cảm biết viễn ảnh cao và đạt tới tâm thức ở cõi cao thay cho tâm thức cõi thấp. Điều họ cần biết là bởi mục tiêu thấp, vì ở gần sẽ có sức lôi cuốn hơn về nhiều mặt, và chỉ có thể vượt qua với giá rất cao. Trực giác phải được phát triển ở nhiều người và ý thức của họ về các giá trị phải được điều chỉnh cho đúng trước khi nhóm này, với nhiệm vụ là phải mở màn tân kỷ nguyên, có thể hội đủ các điều kiện.
Nhờ dùng trí tuệ con người biết được mục tiêu và điều khiển thân xác, nay qua việc dùng một quan năng cao hơn là đặc tính của linh hồn, họ biết làm chủ một cách khôn ngoan dụng cụ của mình, và học để hiểu nó hiện hữu cho mục đích chi. Quan năng cao hơn ấy là trực giác. Có lời nhấn mạnh là chỉ khi nào con người có trực giác họ mới trở thành hữu ích cho nhóm của vị Chân sư, và ai là người chí nguyện được khuyên học hỏi kỹ về ý nghĩa và sự quan trọng của trực giác.

Tổng hợp từ các sách tác giả A.A. Bailey.

Xem Bài TRỰC GIÁC I