1001 CHUYỆN
BÀI 12
PST 52
Xem Mục 1001 Chuyện
– Bo sắp lên chức rồi nghe, cả em với Kim nữa !
– Lên chức gì ?
– Trâm đã ra trường và đi làm, hè năn nay sẽ thành hôn với cu Jefft. Nó nói với em, ’Sao không bao giờ thấy ba mẹ cãi nhau ?’ Làm sao nó biết được, hễ không đồng ý thì tối vào phòng là em mở máy lia chia cho Kim nghe, đế mấy đứa nhỏ nghe làm chi. Em chỉ làm theo trực giác và bản năng, nhưng muốn biết MTTL nói gì về hôn nhân.
– Có thể MTTL nêu ra vài điều không giống như quan điểm thường có. Trước hết hãy nói về tình dục Do thiếu hiểu biết về các luật thiên nhiên, con người sử dụng tính dục sai lạc, và kết quả là hàng triệu linh hồn tái sinh lúc này mà lẽ ra không nên, vì thiên cơ không nhắm làm vậy. Bao nhiêu trẻ con sinh ra không phải vì cha mẹ mong muốn có con, mà vì thiếu làm chủ về tính dục, sự việc ấy gây ra khó khăn hiện nay về kinh tế và các vấn đề nan giải của xã hội.
Khi con người giải quyết những xáo trộn này thì khuynh hướng mới sẽ xuất hiện, mà cũng đã thấy một số rồi:
A. Việc nhấn mạnh có gia đình đông con sẽ chuyển sang việc sinh con thông minh với tư chất tốt lành, tức chú trọng về phẩm hơn về lượng. Khoa ưu sinh – eugenics, và kỹ thuật tạo sinh vô tính – cloning, là các biến thái sai lạc của khuynh hướng này, vì chúng dựa trên lòng sợ hãi, sự tiện dụng và ý muốn cải thiện các đặc tính vật chất mà thôi, không quan tâm đến tinh thần tiến hóa bên trong. Mai sau khi người ta biết nhiều hơn về các thể thanh, nhất là thể sinh lực và luân xa trong thể được khoa học nhìn nhận, thì sự việc sẽ mang ý nghĩa đúng đắn hơn.
B. Chủ trương giảm số sinh còn là so ý thức về môi sinh, rằng địa cầu không thể nuôi sống một dân số quá mức nào đó. Vào lúc này người ta dùng các phương pháp ngừa thai nhưng khi trí tuệ phát triển hơn và có thêm hiểu biết hơn về những luật tác động trong thiên nhiên, con người sẽ khám phá là có một số phản ứng tự nhiên sẽ làm ngừa thai, và khi ấy phương pháp ngừa thai áp dụng hiện nay không còn cần thiết nữa. Có nơi dùng luật để giới hạn số con, nhưng đó không phải là cách hiệu quả, mà cần có thay đổi thực sự trong tâm thức để làm chủ tính dục, và thay đổi chỉ tới khi con người biết về luật tiết điệu, lấy thí dụ là thú vật chỉ sinh con theo mùa, và cây trái cũng gieo trồng, đơm hoa ra quả theo mùa. Khi con người hiểu biết rồi thì cũng sẽ có hoạt động tính dục theo nhịp của thiên nhiên, và như thế nâng ý niệm lên một nấc cao hơn trên thang tiến hóa. Ý thức đó sẽ sinh ra một số thay đổi căn bản như có đời sống tính dục điều hòa, làm cha mẹ đúng nghĩa là tạo cơ hội cho linh hồn kinh nghiệm cõi trần, thay đổi quan niệm về liên hệ tính dục giữa hai phái, tức tình trạng đa thê bãi bỏ, và kết quả của liên hệ tình dục tức sinh con.
Kế đó nhìn như vậy thì một vài điều trở nên sáng tỏ, thí dụ có quan niệm là ta có thể dùng hoạt động tính dục để làm huyền thuật, hay tây phương thích nghe về tantric sex, sách vở viết nhiều điều lạ lùng về tantric sex, như tập luyện phương pháp này sẽ đạt được giác ngộ tâm linh, và các thành phố lớn có lớp dạy tantric sex với quảng cáo lôi cuốn. Nhưng cái họ dạy có sai lầm nặng nề khi nó chú tâm vào sự phát triển cá nhân, cũng như niềm tin là tantric sex mang lại tiến bộ tinh thần. Điều nên biết là liên hệ tình dục chỉ có mục đích duy nhất, là tạo nên thể xác cho linh hồn tái sinh, từ đây dẫn tới hai kết quả sau:
● Việc tạo các thể là để cuộc tiến hóa theo thiên cơ được thực hiện, và linh hồn có được sự phát triển tinh thần cũng theo thiên cơ.
● Nhờ liên hệ tình dục và việc tạo các thể cho linh hồn sử dụng, mà dần dần các thể hóa thanh bai hơn, cuộc sống có thêm sự sáng hay biểu lộ được sự sáng nhiều hơn.
Khi ý nghĩa của luật Tái sinh được giảng dạy khắp nơi, nó sẽ cho ra thay đổi sâu xa về tình dục, sự sống, việc sinh con, làm cha mẹ. Phương pháp ngừa thai hiện giờ chỉ là đáp ứng đối với ham muốn tình dục không kềm chế, và việc sinh con không suy nghĩ. Dân số đông đảo ngày nay trên thế giới ,là kết quả của ham muốn về thú tính của người, và có lẽ đó cũng là yếu tố lớn nhất sinh ra sự gây hấn của các quốc gia. Bởi từ xưa đến nay việc tăng nhân khẩu là nguyên nhân khiến các nước tấn công, chiếm đoạt thêm đất, nói khác đi là chiến tranh.
Có lẽ cần giải thích một chút về thú tính của người. Con người thường cho rằng mình cao hơn loài vật nhưng có rất nhiều điều con người chia sẻ cùng với loài vật. Khoa học tỏ ra khách quan và nói đúng sự thật, khi xếp con người vào loài hữu nhũ tức cùng loài với chuột, chó, mèo ! Cơ thể con người có những bộ phận và khả năng như đa số loài vật, và di truyền học nói rằng 97 % hay hơn các di truyền tử gene của người cũng thấy nơi chuột, khỉ, ruồi. Do đó chữ ‘thú tính’ không có nghĩa hạ giá trị của người, mà chỉ muốn nhắc đến bản tính chung của người và nhiều sinh vật khác. Nói thêm thì cái tách biệt con người với loài thú chỉ là sự kiện con người có ngã thức, còn loài thú thì chưa và đang trên đường tới việc ấy.
– Nếu nói rằng liên hệ tình dục chỉ có một mục đích là tạo thể cho linh hồn tái sinh, thì có giống chủ trương của tôn giáo muốn rằng hôn nhân chỉ là để sinh con không ? Có gia đình sinh 18 con, bất kể sức khỏe của bà mẹ, hay cuộc sống lứa đôi có hạnh phúc hay không; hay ông chồng Hy Lạp là giáo sĩ muốn vợ sinh 12 con cho giống như 12 tông đồ của Chúa. Not me, no way. Vậy đâu có tình thương trong hôn nhân.
– Bớt giận, hôn nhân ngày nay có rất nhiều sai lầm, và quả đúng là tình thương, sự tôn trọng lẫn nhau là điều phải có trong hôn nhân. Nói chính xác hơn thì cha mẹ không phải chỉ tạo thể mà còn phải tạo cơ hội cho linh hồn, tức suy tính trong vòng khả năng của mình (tài chính, sức khỏe), cho linh hồn cơ hội tốt đẹp nhất để học hỏi và tiến hóa. Thế nên ta nhắc lại ý ở trên là trong tương lai, phẩm chất sẽ quyết định số con thay vì lượng.
– Rồi còn chủ trương vài nước là ông được quyền có 4 bà thì sao ?
– Trước sau việc ấy phải chấm dứt không tránh được, xét cho cùng thì thứ nhất nó là sự sỉ nhục cho người đàn bà, kế đó ấy là việc hợp thức hóa chuyện mãi dâm. Người ta không thể viện cớ tập tục lâu đời để duy trì chủ trương ấy. Có một điều con người hay quên, và ai không biết luật tái sinh thường không nhìn nhận, đó là không có người nam hay người nữ, mà chỉ có linh hồn sống trong vĩnh cửu. Ai nhân danh người nam để đàn áp người nữ, hay qui hết tội lỗi cho người nam (thí dụ tệ nạn mẹ độc thân), cần biết rằng đó không phải là lỗi lầm của một phái nam hay nữ, mà là lỗi của chung nhân loại do vô minh mà ra. Vì ai là người nam trong kiếp này không chừng sẽ là người nữ trong kiếp tới hay ngược lại, và có ai nói được rằng mình không phạm lỗi lầm. Nếu quả vậy thì tại sao họ còn tái sinh trong thế giới ? Khi hiểu rằng mình thuộc về nhân loại và linh hồn không có phái tính, con người sẽ bớt đổ lỗi và nhìn đúng sự thật hơn.
– Khi có hiểu biết hơn thì hôn nhân và việc sinh con sẽ diễn biến ra sao ?
– Ý thức tinh thần về việc sinh con và hiểu biết về luật Tái sinh trong ngàn năm tới, sẽ mang lại thay đổi sâu xa trong hôn nhân cùng lý do khiến người ta thành hôn, dù rằng động cơ căn bản là tình thương yêu giữa hai người sẽ giữ nguyên không đổi, và càng được nhấn mạnh thêm, cùng biểu lộ không vị kỷ. Thái độ của cha mẹ với con cái cũng thay đổi nhiều, với trách nhiệm được tiếp tục nhấn mạnh. Đây là trách nhiệm về thời điểm để có con, cơ hội và cách thức đúng đắn cho việc tạo các thể mà linh hồn sẽ sử dụng. Việc chuẩn bị con người cho trách nhiệm làm cha mẹ, huấn luyện họ về các nhu cầu căn bản của trẻ sinh ra, sẽ dần dần chuyển sang phần trí tuệ và tinh thần, mà bớt dần về chuẩn bị mặt thể chất.
Lúc đó, khi hào quang hay các thể thanh của con người được nhìn nhận, và thêm nhiều người có thông nhãn, hào quang của cha mẹ sẽ được xem xét một cách khoa học cùng với hào quang non nớt của bào thai, và sợi dây nối giữa mẹ với bé (nơi cõi trần là sợi dây rốn) được tạo nên một cách cẩn trọng và khéo léo. Trẻ sinh ra có thể thanh đã nằm sâu và hoạt động bên trong thể xác, được vậy là nhờ sự làm việc thông minh bằng trí não của cha mẹ. Hiện thời việc này chưa xẩy ra ngoại trừ trường hợp của linh hồn rất tiến hóa, vì các thể thanh chưa thành hình liền lạc, còn mơ hồ và chỉ bay lượn bên trên thể xác của trẻ, chờ cơ hội nhập và soi sáng tâm thức. Tình trạng muốn nói có việc hòa hợp chất liệu trong sáng mà nơi cõi trần đang thiếu, và sự hòa hợp có được chắc chắn là nhờ cha mẹ được huấn luyện kỹ trong kỷ nguyên mới. Sau này khi trẻ con lớn lên, sự hòa hợp giữa các thể được trợ giúp thêm nhờ thầy cô sáng suốt chỉ dạy.
Vắn tắt thì một trong những bổn phận của nhà giáo về sau này, là giảng dạy về luật Luân hồi nhằm mang lại thay đổi tận gốc rễ, quan niệm của con người về tình dục, sinh con. Việc giảng dạy này không mang tính cách tôn giáo, mà sẽ được dạy ở trường như là một phần của giáo dục mới, để chuẩn bị người trẻ cho trách nhiệm và bổn phận làm cha mẹ.
– Ngoài dân số thì còn lý do nào khác cho tình hình rối loạn lúc này của thế giới không ?
– Có nhiều lý do:
1. Mức phát triển của nhân loại hiện nay là một trong các lý do chính và căn bản. Chúng ta đã tới chặng mà việc phát triển thêm đòi hỏi phải có thay đổi sâu xa, về thái độ của con người đối với sự sống, với tất cả mối liên hệ của ta với thế giới chung quanh. Điều quan trọng là thay đổi này do con người tự đặt để cho mình, mà không phải là từ bên ngoài áp đặt, hay có cưỡng ép dưới bất cứ hình thức nào, tức con người khám phá rằng thay đổi là việc cần xẩy ra. Mối quan tâm mạnh mẽ hiện nay về môi sinh là dấu hiệu cho thấy có ý thức đó.
Trí năng con người đã phát triển đến mức không gì có thể ngăn chặn họ khám phá những hiểu biết, mà khi lạm dụng hay áp dụng một cách ích kỷ sẽ rất nguy hiểm, Con người vì vậy cần được chỉ dẫn để phản ứng với điều có giá trị cao hơn, và có ý thức giá trị cao hơn, mà điều này cũng là một phần của cuộc tiến hóa. Nó có nghĩa con người đi từ thành đạt này sang thành đạt khác cao hơn, hay hơn, luôn luôn có sự thúc giục bên trong khiến họ dấn tới và tiến bộ. Nhiều người đã hòa hợp được thân xác, tình cảm và trí tuệ, sử dụng cả ba thể như là một để biểu lộ các năng lực tinh tế hơn và tương ứng với ba lực thấp tức ý chí, minh triết và bác ái. Diễn trình thường là vậy nhưng các đấng cao cả đang nỗ lực đẩy mạnh thêm tiến trình, nên sự việc hóa phức tạp hơn.
2. Lý do thứ hai là sự xuất hiện của giống dân mới. Đã có nhiều sách vở viết về chuyện này, chỉ có vài điểm cần nói là giống dân mới có mặt ở khắp nơi, không riêng ở một vùng nào, nhưng chính yếu là ở những nơi thuộc sắc dân tây phương. Trong số các sắc dân thuộc giống dân thứ tư, giống dân mới hiện diện rải rác ở Trung Hoa và Nhật, và đóng góp nhần mình vào công cuộc chung. Dù có mặt ở nơi nào, điều nên nhấn mạnh là sự khác biệt giữa giống dân mới với giống dân đã có, nằm ở tâm thức hơn là ở thân xác có nét đặc biệt, tức là trí não hơn là cơ thể được cấu tạo riêng.. Dầu vậy từ từ về sau tâm thức phát triển sẽ uốn nắn và ấn định tính chất của cơ thể, để cuối cùng cho ra một số đường nét rõ rệt về thân xác. Phần tâm thức nổi bật của giống dân mới này, là việc nhìn nhận rộng rãi các sự kiện tâm linh, đặc tính chính của họ là có hiểu biết bằng trực giác, và làm chủ được năng lực, và đóng góp của họ là sự chuyển hóa ham muốn ích kỷ, thành tình thương cho tập thể rộng lớn hơn, thí dụ là các đại lãnh tụ của một số quốc gia. Họ không hành động vì tham vọng ích kỷ mà do lòng ái quốc thúc đẩy, và như thế đáp ứng lại một lý tưởng, cũng từ đó sinh ra các chủ nghĩa lớn.
Lý do kế là thời đại Song Ngư vừa qua, những lý tưởng, hình thái của thời đại này đã kết cứng làm trói buộc, hay đè ngộp sự sống bên trong không cho phát triển. Dầu vậy không gì có thể ngăn chặn sức sống thiêng liêng, và sự vùng vẫy để bung ra tạo nên phần nào các rối loạn của thế kỷ trước và cả về sau này. Những lỳ tưởng đã lỗi thời là:
a. Ý tưởng về thẩm quyền.
Thấy trong đủ mọi sinh hoạt của thế giới như sinh hoạt xã hội, giáo dục, tôn giáo; nó dẫn tới việc áp đặt những hình thức khác nhau về thẩm quyền lên con người, với chính trị là quan niệm dân chi phụ mẫu; với chính quyền, xã hội là giai cấp trên đối với giai cấp dưới mà khi sáng suốt thì tầng lớp cao nâng đỡ tầng lớp thấp thay vì bóc lột; tôn giáo thì có quyền uy của giáo hội, giáo sĩ đối với tín đồ, thầy đối với trò.
b. Đời là bể khổ
Để dạy con người tính từ bỏ, không trụ vào hình thể, các đấng cao cả nhấn mạnh đến sự bi ai và giá trị giáo dục của nỗi đau khổ. Tôn giáo nào cũng đề cập tới hai điều này, nhằm làm lưu ý con người đến chuyện vĩnh cửu cõi Trời, và những sở đắc tâm linh không hư hoại như lòng từ, minh triết. Đau khổ và bi ai có giá trị của nó, nhưng bởi con người quá đặt nặng vào đó, tâm lý thế giới ngày nay là sợ hãi, buồn lo với hy vọng yếu ớt là cảnh thiên đàng sau khi chết sẽ khá hơn. Nhu cầu lúc này là tình thương cần được lan tràn để con người nhìn thực trạng sáng suốt hơn, và tình thương cùng hoan lạc sẽ là nét chính trong thời đại mới thay cho đau khổ.
c. Thỏa mãn dục vọng
Trên hết thẩy, thời đại Song Ngư là thời đại sản xuất vật chất và bành trướng thương mại, là tài quảng cáo những sản phẩm làm công chúng tin là cần phải sở hữu chúng mới có hạnh phúc. Tính giản dị và các chân giá trị tạm thời bị gạt bỏ qua bên. Khuynh hướng này kéo dài không ngừng trong một thời gian lâu, vì Thiên Đoàn muốn nhân loại đi tới mức chán chê, và ngày nay con người sở hữu đủ các món, mà không có dấu hiệu nào cho thấy là đã tìm ra đường dẫn tới hạnh phúc thực sự. Con người đang học bài học đó, và cái tinh thần biểu lộ bằng chủ nghĩa thương mại đang tới ngày tàn dù ta chưa nhìn ra. Óc sở hữu và dùng vũ lực chiếm đoạt là đặc tính của các quốc gia, con người, và nền văn minh trong cả ngàn năm qua, nhưng khi giá trị tinh thần của thời đại bị thương mại hóa, thí dụ như lễ giáng sinh, thì đó là dấu hiệu muốn nói tới lúc giá trị đã hết hữu ích và cần được thay đổi.
d. Tân kỷ nguyên Bảo Bình
Sự hình thành các nhóm hoạt động cho mục đích này hay kia, là một dấu hiệu khác cho thấy các năng lực mới đang tuôn vào địa cầu. Cái đáng chú ý là tất cả các nhóm này đểu nhằm biểu lộ ý tưởng mà họ cảm nhận và nắm bắt, hơn là biểu lộ một kế hoạch của ai ấn định và áp đặt lên họ, có nghĩa ý tưởng về thẩm quyền thời Song Ngư mất đi ảnh hưởng. So sánh thì người Song Ngư là người lý tưởng, còn người Bảo Bình sẽ nắm lấy lý tưởng mới và thực hiện nó. Lý tưởng của người Song Ngư và đời họ ở cõi trần là hai biểu lộ riêng biệt, thường khi chúng khác xa và không hòa hợp thành một, như câu nói hay được nêu lên, ‘Làm điều tôi nói, mà đừng làm theo điều tôi làm’. Con người Bảo Bình sẽ thể hiện những lý tưởng cao cả, vì cái trí được phát triển và đóng vai trò, một là đi sâu vào thế giới tư tưởng (biết suy nghĩ, bắt lấy ý niệm), và hai là soi sáng cảnh sống dưới trần (khám phá, giải thích). Trí tuệ tổng hợp như vậy sẽ cho biểu lộ các giá trị chân thực hơn, và khiến thực tại tinh thần sống động hơn (thí dụ thái độ sống trong vĩnh cửu), đây là điều mà con người chưa hề chứng kiến khi trước.
Một trong những thành đạt của thời đại Bảo Bình sẽ là việc tôn giáo mới ra đời. Nó là sự hòa hợp các ước vọng tinh thần khác nhau thấy trong các tôn giáo khác biệt, thành tôn giáo mới. Nó gồm những giá trị tinh thần mà khối người liên kết thực tâm mong ước, lòng thành của họ khi dâng lên sẽ được những đấng cao cả đáp ứng.
Chót hết, thế giới đang xáo trộn bất an, còn là do sự va chạm của hai năng lực thuộc cung 6 trên đường rút lui và cung 7 đang biểu hiện. Tác động của chúng ở mọi cõi trên mọi loài ngày nay đã tới mức quân bình với nhau, vì vậy ta có khủng hoảng lên tới cao điểm. Người cung 6 cảm thấy các giá trị truyền thống mà họ quen thuộc bị tấn công, như hôn nhân giữa hai người cùng phái tính, nên phản ứng bằng tính phòng vệ bảo thủ. Người cung 7 bị những năng lực mới khích động mà họ chưa sử dụng thành thạo, do đó mắc lỗi lầm và bị chống đối. Thế giới bị đảo lộn với khó khăn, căng thẳng cực độ, đòi hỏi có quyết định giữa sự chế ngự của vật chất và sự làm chủ của tinh thần. Khi nhớ lại là cung 6 tác động qua huyệt đan điền solar plexus và kiểm soát nó, cái chủ về tình cảm và ham muốn, còn cung 7 kiểm soát luân xa xương thiêng chủ về sáng tạo hình hài vật chất, ta sẽ hiểu ra vì sao tình dục và các vấn đề tình cảm lại nổi bật hiện nay.
Tuy nhiên không phải cung 7 chỉ biểu lộ qua tình dục, có hai hiện tượng khác lúc gần đây cũng muốn nói năng lực cung 7 đang mạnh dần, thứ nhất là có sự chú tâm vào việc tạo hình hài vật chất, thấy qua nghiên cứu hào hứng về kỹ thuật thụ thai vô tính cloning, và thứ hai là vấn đề siêu hình hay huyền thuật - magic được chú ý một cách khoa học, bớt đi tránh né như trước kia.
– Mình trở lại chánh thuật và tà thuật (white / black magic) à, có gì để thêm vào chuyện đã nói trong số PST 49 ?
– Kỳ này mình nói về hình thể và sự sống. Tà thuật liên hệ đến vật chất với năng lực tuôn vào hình thể chỉ nhằm làm sinh động nguyên tử trong chất liệu, còn yếu tố tình thương phát xuất từ linh hồn bị thiếu vắng. Hình thể tạo ra vì vậy có chất liệu của cõi trí, tình cảm và vật chất mà không có sự đóng góp của linh hồn. Nó có mục đích phù hợp với sự phát triển của vật chất, nhưng hợp với sự biểu lộ của linh hồn và luật tiến hóa. Tà thuật do đó là con đường tiến bộ cho vật chất, không phải là con đường tiến bộ cho con người tức linh hồn. Cưng để ý ở đây cả hai con đường đều đúng lẽ và nằm trong thiên cơ, có nghĩa sự tiến bộ của vật chất và tinh thần đều có lý do hiện hữu chính đáng, tự chúng không có gì sai. Chúng chỉ trở thành sai lầm cần tránh khi không hợp thời, thí dụ ở giai đoạn là người thì sự tiến bộ cần có những đặc tính của tinh thần, khi ta cố tình gạt bỏ các đặc tính này thì đó là tà thuật.
Hãy thử so sánh ý này với việc thụ thai vô tính cloning, và kỹ thuật di truyền học - genetic engineering hiện nay, mục đích của hai nỗ lực là tạo cơ thể mạnh khỏe không bệnh tật, tránh đau đớn. Đó là ý lành, nhưng mục đích của cơ thể là gì ? Nó được tạo ra cho linh hồn sử dụng để biểu lộ trong ba cõi, mà không phải hiện hữu chỉ cho chính nó, khi ta chỉ nhắm vào vật chất, tách rời vật chất khỏi phần tâm linh cái sử dụng nó, thì ý này cần xét lại để khỏi đi sai đường. Nếu tiếp tục thì tà thuật càng ngày càng đưa con người đi sâu vào vật chất, có hoạt động chỉ giới hạn trong ba cõi thấp và đóng cửa con đường dẫn tới sự sống, còn chánh thuật khiến con người ý thức cõi tinh thần và mang họ ra khỏi vòng luân hồi sinh tử, tức đi theo luật tiến hóa.
– Vậy thì dùng gene therapy ra sao, rồi có luật ngăn cấm không cho nghiên cứu bằng tế bào gốc stem cells, nhưng làm sao cấm được cái trí con người ?
– Tất cả đều tùy thuộc vào dụng ý, có hai yếu tố chú ý ở đây. Thứ nhất là không nên mà cũng không thể cấm cản cái trí, dù muốn dù không con người sẽ ngày càng khám phá nhiều điều mới lạ không có gì ngăn chặn được. Thứ hai, sự sống tiến hóa bằng cách thăng hoa mà không phải hủy diệt, chuyển biến dục vọng thấp thành ước vọng thanh cao. Do đó song song với tiến bộ về trí năng thì cần có chỉ dẫn về tâm linh để con người đi đúng hướng. Nó muốn nói hơn lúc nào hết MTTL và sự kiện về Thiên Đoàn, các chân sư, cần được trình bầy, xác định với thế giới là có đời sống tâm linh thấm nhuần cõi vật chất. Con người cần hiểu rằng một cơ thể tốt lành không bệnh tật, sẽ được ấn định từ bên trong mà không phải hoàn toàn nhờ kỹ thuật từ bên ngoài.
Sự khác biệt giữa tà thuật và chánh thuật, sự sống vật chất và sự sống tinh thần cần được nêu rõ. Thất cả những việc gì biểu lộ lý tưởng tinh thần, nhấn mạnh về sự sống như một tổ chức, tôn giáo, trường phái tư tưởng, một quyển sách v.v, thuộc về chánh thuật. Khi đó chúng thành một phần của dòng sống mà ta gọi là chánh đạo, vì chúng đưa con người từ hình thể đến sự sống, từ vật chất sang tâm thức. Còn bất cứ điều gì nhằm gia tăng quyền lực của vật chất, hình thể, khiến nó có thế lực hơn, là có khuynh hướng về tà đạo, tách dần khỏi Thiên cơ và Thiên ý.
Việc tạo hình thuần vật chất như vài nghiên cứu về đang làm thì không có gì sai, vì con người cần phải học, mà sai hay đúng chỉ đặt ra khi thể được sử dụng. Hình thể tự nó không phải là tà hay chánh thuật, sự phân biệt này chỉ có khi nói về dụng ý khi tạo ra thể, mục đích của chúng. Ở những giai đoạn đầu mọi hình thể đều tạo ra giống nhau, tiến triển theo cùng một đường tới một điểm, giống như việc lọc quặng mỏ để có sắt thép và chế tạo dao. Khi mục đích của chúng hiển hiện thì chừng đó sự phân biệt chánh tà mới rõ ràng. Đó là lý do người ta cần tập có động lực chính đáng, hay ít nhất tư tưởng đúng đắn (chánh niệm). Ngoài hai yếu tố này cưng cũng đừng quên là phải để con người được tự do, dù là tự do làm lỗi. Sự tiến hóa chỉ thực sự diễn ra khi con người có tự do ý chí và quyết định, mặt khác có bài học nào học được mà không phải trả giá bằng lầm lỗi tức kinh nghiệm ?
– Huyền thuật làm em nhớ tới bộ Harry Potter, nhưng năng lực cung 7 còn biểu lộ qua cách nào khác ?
– Harry Potter là chuyện giải trí, còn có một hoạt động khác mang tính chất cung 7 và được xem xét bằng tinh thần khoa học, là quan tâm về chuyện khác thường nay từ từ được chính thức nghiên cứu, theo đúng phương pháp khoa học như các môn học khác. Đó là loại nghiên cứu của nhà khoa học Rupert Sheldrake về những hiện tượng hay cảm quan chưa có giải thích khoa học. Ông viết nhiều sách tìm hiểu về khả năng tiên đoán, như chó mèo biết trước chuyện sắp xẩy ra, hoặc đó là chủ sắp về hay sắp động đất, hay linh tính báo trước có tai nạn, khả năng dùng mắt truyền ý muốn như khi chồn con vui chân chạy đi xa, chồn mẹ chỉ ngồi ngó là chồn con ngần ngừ, đứng lại rồi quay về hang.
Ông ghi nhận là nơi người khả năng này biểu lộ bằng nhiều cách, chẳng hạn người đi săn mà dự tính tìm con mồi thì sẽ không gặp, còn không dự tính thì thường là sẽ gặp. Chẳng những vậy người chụp ành thiên nhiên, nếu cố ý muốn chụp vật thì không được toại nguyện, nhưng khi chỉ đi chơi không có dụng ý nào thì gặp được vật mà mình muốn chụp, làm như con vật bắt được ý tưởng của người. Lại có nhiều trường hợp cho thấy người cũng bắt được ý của ai khác. Sheldrake xếp đặt nhiều chuyện tương tự như thế, đăng quảng cáo trên báo xin liên lạc với những ai có kinh nghiệm hay khả năng khác thường, và thực hiện việc nghiên cứu theo phương pháp khoa học. Những sách ông xuất bản làm các hiện tượng khác thường được người ta chú ý hơn, và khiến việc nghiên cứu chúng được coi trọng hơn, thay vì bị chê bai hay tránh né, bác bỏ như trước kia. Đó chính là nỗ lực vén màn bí mật của nữ thần Isis, nhiều phần là do ảnh hưởng cung 7
– Như vậy thế giới mà các con của Trâm và Jeff sẽ chào đời có đặc tính gì nổi bật ?
– Không ai biết chắc, mà có biết cũng khó nói vì khó mà tiên đoán đúng về con người, vì chúng ta có tự do ý chí. Tuy nhiên có thể nói một điều, óc sáng tạo trong thời gian tới sẽ được áp dụng vào cảnh sống, hơn là vào nghệ thuật. Nói khác đi con người học cách sống có tính sáng tạo hơn, quan tâm nhiều hơn vào giá trị, ý nghĩa.
– Chà, coi bộ ngoài lớp dự bị hôn nhân hai cô cậu Trâm và Jeff cũng nên biết về hôn nhân theo MTTL.
– Bravo, mà liệu cô cậu có thích ?
– Trâm sẽ chịu lắm, và hễ Trâm muốn thì cu Jeff sẽ theo ! Câu tiếng Việt đầu tiên Kim dạy con rể là ‘Nhất vợ nhì Trời,’ cu Jeff thuộc như vẹt. Yên chí đi.
Sách đọc thêm:
A Treatise on White Magic, A. Bailey
Education in the New Age, A. Bailey
..............................................