1001 CHUYỆN (43)

1001 Chuyện

 

– Sao lúc này hiện tượng đồng tính luyến ái nổi bật và lan rộng vậy Bo ?
– Mình có thể nêu ra một số nguyên nhân. Đồng tính luyến ái được xem là một sự sai lạc, và là một trong các điều sai lạc luôn xẩy ra vào lúc giao thời là lúc này, khi nền văn minh cũ đang tan rã, và khi trật tự cũ bị cái mới thay dần. Vì sao như thế ? Vì khi những động lực mới tuôn tràn vào nền văn minh cũ, nó cho tác động là khơi dậy trong con người nỗi ao ước về chuyện tân kỳ, về một vùng trời mới mẻ, về chuyện lạ thường và lắm khi bất thường. Người có tâm tánh mềm yếu sẽ chìu theo động lực, hay những linh hồn có óc phiêu lưu mạnh mẽ sẽ thành nạn nhân cho bản tính thấp của mình, đi sâu vào chiều hướng nghịch với luật trời.
Thế nên khi có năng lực mới tuôn chẩy ta có hai việc song song thành hình, một là tiến bộ đích thực về các lãnh vực tâm linh mới mẻ chưa hề có ai thử tìm, hai là thí nghiệm về dục vọng thể chất, điều không phải là đường tiến bộ cho con người. Đây cũng là một hình thức của tính nhị nguyên trong mọi biểu lộ của sự sống, vào thời điểm này ở người hiểu biết năng lực mới khiến họ lưu tâm hơn về mặt tinh thần thiêng liêng, cùng lúc người ít tiến hóa chịu ảnh hưởng của lực sẽ chú ý quá độ vào chuyện huyền bí thần thông như bói toán, thông nhãn, thông nhĩ, cảm nhận lạ thường (ESP: extrasensory perception).
Một yếu tố khác là sự tái xuất hiện của đức Chúa, năng lực và tinh thần thương yêu mà việc này mang lại cũng sẽ cho ra hai ảnh hưởng. Cả người xấu và người tốt đều bị kích thích bởi việc trọng đại này, cả ham muốn vật chất lẫn ước nguyện tinh thần đều được khơi dậy và nuôi dưỡng cho lớn mạnh; chuyện như khu vườn có hai loại hạt giống nằm sẵn trong đất, cùng nhận năng lực và nẩy mầm. Cũng y vậy, sự tuôn tràn của tình thương sẽ kích thích tình yêu nhục thể, thèm khát thấp kém, thú tính; nó ấp ủ, nuôi dưỡng dục vọng muốn chiếm hữu mặt vật chất, mang lại kết quả xấu thường đi kèm với thái độ ấy, thí dụ đáp ứng về mặt tình dục ngày càng lớn mạnh, sai lầm.
Trong lúc đó năng lực vô tư cũng làm tăng trưởng tình huynh đệ đại đồng, thúc đẩy sự phát triển, biểu lộ của tâm thức nhóm, của lòng thông cảm nơi mỗi người. Nó cho ra khuynh hướng mới, dũng mãnh về sự hòa đồng, kết hợp. Bồ đề tâm sẽ đều đặn lan rộng trên địa cầu, ảnh hưởng của nó ngày càng lớn mạnh trong nhiều thế kỷ tới mãi cho đến cuối thời đại Bảo Bình Aquarius, và bởi tác động của cung bẩy là mang cặp đối nghịch lại gần khiến chúng hợp tác chặt chẽ hơn, ta sẽ chứng kiến việc nhân loại thoát sinh khỏi vật chất, nói khác đi là thiên tính bị che khuất sẽ được tỏ hiện.
Như thế mình cần nhìn vấn đề rộng lớn hơn, đặt chi tiết vào bối cảnh của chuyện. Đồng tính luyến ái tự nó không phải là hiện tượng đứng riêng rẽ, mà là một trong nhiều hệ quả của các yếu tố tác động lên địa cầu hiện giờ. Tự nó thì đồng tính luyến ái là hiện tượng đã có từ rất xưa do một số nguyên nhân gây ra:
– Khi linh hồn sử dụng cùng một phái tính trong nhiều kiếp liên tiếp, nay đổi sang phái khác mà cá tính không chịu thích ứng với thân xác mới và đi theo kế hoạch linh hồn đặt ra, nó có khuynh hướng nổi loạn và quay về lối sống, thói quen cũ. Lấy thí dụ linh hồn trong nhiều kiếp rồi mang thân xác nữ, sang kiếp này mang thân xác nam. Nếu cá tính không thuận với ý muốn của linh hồn là học về kinh nghiệm do thể xác nam nhân mang lại, nó tiếp tục xử sự như là một nữ nhân do sự quen thuộc, lập đi lập lại của quá khứ. Hiểu như vậy ta thông cảm hơn với lý luận của người đồng tính luyến ái, là họ cảm thấy xa lạ với thân xác của mình, nhưng điều ấy không ảnh hưởng sự kiện đó là cách suy nghĩ và hành động trái lẽ, đánh dấu sự thụt lùi trên đường tiến hóa, nhắc lại sinh hoạt cổ xưa như sẽ nói dưới đây.
● Đồng tính luyến ái đã lan tràn sâu rộng ở Hy Lạp thời cổ, và một phần nào ở đế quốc La Mã. Nay nhiều linh hồn trở lại lúc này đã từng là người Hy Lạp hay La Mã xưa, họ mang theo ký ức thay thói quen đó nên khuynh hướng chung trên thế giới sẽ chợt mạnh lên như đang xẩy ra.
● Nó có thể được coi là ‘di sản’ của thời Lemuria còn truyền đến ngày nay, và đây là nguyên do chính của bệnh. Để nắm vững chuyện ta cần ra ngoài đề một chút. Trong cuộc tiến hóa trên địa cầu sẽ có 7 giống dân chính (hay mẫu chủng) xuất hiện, từ trước tới nay đã có 5 giống dân chính ra đời, trong số đó hai giống dân đầu tiên đã hoàn toàn mất tích. 3 giống dân hiện nay đang có người trên địa cầu là:
– Mẫu chủng thứ ba - Lemuria (người rất bán khai ở Phi và Úc châu)
– Mẫu chủng thứ tư - Atlantis
– Mẫu chủng thứ năm - Aryan
Mỗi giống dân như vậy có mục tiêu phát triển tương ứng:
– Lemuria: nhắm vào thân xác và phát triển cái thức về xác thân. Sự việc tim, phổi, nội tạng tự động làm việc không cần ta chú ý là kết quả của sự luyện tập phát triển từ thời aấy. Con người lúc đó cố gắng mở mang cái ‘thức’ về hoạt động của thân thể, và nay cái thức ấy trở nên vô thức, thành tự động trong trí não người.
– Atlantis: nhắm vào tình cảm, làm chủ nó.
– Aryan: nhắm vào trí tuệ, mở mang và sử dụng nó.
Như thế, vào thời Lemuria có sự chú trọng mạnh mẽ về xác thân, chức năng và hoạt động của nó; năng lực linh hồn tuôn xuống có khuynh hướng kích thích những trung tâm lực thấp. Các linh hồn tiến hóa khi đó (hiểu theo mức phát triển lúc bấy giờ) không thỏa mãn với hoạt động tính dục bình thường nên thực hành các phương pháp nghịch lý. Số đông người như vậy tái sinh hôm nay và không cưỡng lại được thói quen cũ, nói khác đi ai bầy tỏ khuynh hướng đó hiện giờ là người thuộc nhóm linh hồn thoát kiếp thú vào thời Lemuria. Bởi họ đã đi một chặng đường dài từ đó tới nay, tâm tính ấy sửa chữa được nếu họ khứng chịu. Họ có thể chuyển năng lực tình dục (nhắm vào sự sáng tạo thể chất) lên sáng tạo ở mức cao hơn, hướng nó vào các hoạt động xây dựng hữu ích và có nhiều người đã tự động làm vậy.
Nói rộng hơn, đồng tính luyến ái nằm trong vấn đề tính dục - việc lạm dụng và hệ quả của nó - đang lan tràn hiện nay. Điểm chính của sự việc là năng lực, và đồng tính luyến ái chịu ảnh hưởng của sự tương tác giữa các lực. Khi nhìn sự việc theo quan điểm năng lực, sự việc hóa ra giản dị, dễ hiểu đưa tới giải pháp tự nhiên.

– Quyền năng như thông nhãn thông nhĩ có phải là thước đo cho mức tiến hóa của một ai không ?
– Mình phân biệt hai loại quyền năng:
a. Quyền năng tâm linh thấp
b. Quyền năng tinh thần hay loại cao.
Quyền năng loại thấp là kết quả của việc tâm thức trong thể tình cảm của con người tiếp xúc được với tâm thức chung của cõi tình cảm, phần hồn của mọi hình thể trong ba cõi, của mọi thể của bốn loài trong thiên nhiên là kim thạch, thảo mộc, thú cầm và con người. Quyền năng loại cao là kết quả của việc phát triển tâm thức nhóm, thuộc ngôi hai của thiêng liêng. Chẳng những chúng gồm luôn những quyền năng thấp hơn, mà còn khiến con người tiếp xúc được với các sự sống và hình thái của sự sống  có trong những cõi tinh thần, tức nơi hai cõi cao bên trên ba cõi thấp, hay năm cõi chứa đựng trọn vẹn sự tiến hóa của con người từ phàm nhân tới siêu nhân.
Mục tiêu của người chí nguyện chân thật là sự khai mở những quyền năng cao gọi bằng nhiều tên như trực nhận, trực giác, hiểu biết tinh thần, nhãn quan thanh khiết, việc đạt được minh triết. Chúng khác với quyền năng thấp vì chúng loại bỏ cái sau, bởi những cái sau được xem là ‘chướng ngại cho sự đạt tới nhận thức tinh thần cao nhất, nhưng được dùng như là quyền năng huyền thuật trong những cõi hữu hình.’
Những quyền năng cao hơn bao gồm tất cả mọi điều, và cho thấy rõ bằng sự chính xác của chúng và tính không sai chạy khi được áp dụng đúng đắn. Chúng tác động tức thì như tia chớp. Quyền năng thấp thì có khi sai lầm, đi theo thứ tự trước sau của thời gian, và có mức tác động giới hạn. Chúng họp thành một phần của ảo ảnh to lớn, và cho người chí nguyện thực lòng thì chúng có tính hạn chế.
Kinh sách ghi là có năm cách để phát triển tâm linh, năm phương pháp này có thể được áp dụng trên cả năm cõi của sự tiến hóa của con người, tức gồm luôn hai cõi cao là nơi làm việc của bậc đạo đồ. Ta ghi dưới đây năm cách ấy:
● Tái sinh, là phương pháp ở cõi trần
● Ma túy, là việc tâm thức cõi tình cảm được linh hoạt
● Thần chú, dùng cách xướng ngôn, hay phương pháp ở cõi trí
● Ước muốn mãnh liệt, hay sự thăng hoa của ước nguyện tức phương pháp ở cõi Bồ đề, nơi của tình thương tinh thần.
● Tham thiền, phương pháp nơi cõi Atma, nơi của ý chí tinh thần.
Trong cách liệt kê này ta để ý thấy rằng ao ước mãnh liệt thuộc loại tinh thần (d) là sự thăng hoa của ham muốn tình cảm, thì tham thiền mà bậc đạo đồ thực hành cũng vậy (e), là sự thăng hoa của tất cả diễn tiến trí não. Như thế chỉ có hai cách chót dẫn tới việc khai mở những quyền năng là được bậc đạo đồ áp dụng, vì chúng là sự tổng hợp và thăng hoa của nhận thức đạt được nơi cõi tình cảm và cõi trí.
Vậy ta có thể thấy cho người đi tìm chân lý, ba cách:
– Việc tái sinh (a),
– Ước nguyện mãnh liệt (d) và
– Tham thiền (e)
là những cách duy nhất mà chánh đạo cho phép người học Đạo tập; ngoài ra ma túy và thần chú hay chú ngữ là phương tiện của tả đạo, liên can đến những quyền năng thấp.
Ai đi tìm chân lý có thể hỏi phải chăng chuyện cũng đúng là chú ngữ và dùng hương liệu là một phần của nghi thức trong việc chứng đạo, và như thế bậc đạo đồ và người chí nguyện được phép dùng không ? Chắc chắn vậy, nhưng chúng được dùng không theo nghĩa ta nói ở đây, hay được dùng cho việc khai mở quyền năng tâm linh.
Vị Chân Sư và các đệ tử của ngài dùng chú ngữ để làm việc với những loài không phải loài người, kêu gọi sự trợ giúp của thiên thần, và để điều khiển các lực tạo hình của thiên nhiên, và các ngài dùng hương thảo và hương liệu để thanh tẩy khung cảnh, tình trạng, loại trừ các thực thể bất hảo và nhờ vậy khiến cho những bậc tiến hóa cao có thể xuất hiện. Dầu vậy, đây là chuyện rất khác biệt so với việc dùng chúng để có quyền năng tâm linh.
Chuyện đáng lưu ý ở đây, là nguyên nhân đầu tiên làm khai mở quyền năng của linh hồn dù thấp hay cao, là vòng tái sinh. Ta phải luôn nhớ điều ấy, lắm người chưa ở mức để họ có thể khai mở những quyền năng của linh hồn. Mặt tinh thần của linh hồn vẫn còn ngủ yên chưa thức tỉnh nơi nhiều người, vì trọn kinh nghiệm và sự phát triển của bản tính thấp chưa được trải qua. Giai đoạn này được nói tới bằng câu chuyện người Do Thái phải lưu lạc 40 năm trong đồng vắng, trước khi xã hội ổn định với sự trị vì của vua, quan và có việc vua Solomon xây cất đền thờ.
Nói rộng ra thì người ta cần trải qua nhiều kiếp, trước khi thân thể toàn hảo để phần tinh thần có thể sinh ra trong vận cụ đã được chuẩn bị kỹ càng. Lại nữa trong nhiều trường hợp, việc có những quyền năng loại thấp là dấu hiệu của mức tiến hóa thấp, và của sự kiện là đương sự có liên kết gần gũi với thú tính. Điều này phải được vượt qua trước khi những quyền năng loại cao có thể nẩy nở. Điểm khác là với ai có khả năng tâm linh mà muốn tìm Thầy học Đạo, một trong những điều kiện để họ được vị Thầy thu nhận là phải từ bỏ không sử dụng những quyền năng này.
Mình không cần vạch ra là việc dùng rượu và ma túy có thể, và đã xẩy ra làm người ta có được tâm thức ở cõi tình cảm, và việc luyện huyền thuật bằng dục tình. Cách này là thuần về tà đạo và người học Đạo chân chính không can dự vào, nó là một phần của việc phát triển tà thuật.

– Khả năng siêu nhiên như làm phép lạ có phải là dấu hiệu của tính thiêng liêng không ?
– Cưng cần phân biệt giữa hai điều, là khả năng tạo hiện tượng tự nó không hề muốn nói đương sự có đạo hạnh hay mức phát triển tinh thần cao. Các đại phù thủy tà đạo có khả năng tạo phép lạ như đức Chúa làm, vượt qua giới hạn thông thường nơi con người. Những quyền năng này tiềm ẩn trong mặt sáng tạo của Thiên tính, hay ngôi thứ ba trong ba ngôi là mặt vật chất, và liên hệ với sự hiểu biết thông minh về vật chất, cùng khả năng của cái trí chế ngự được chất liệu. Khả năng này vì thế không có tính thiêng liêng hay không thiêng liêng, mà chỉ là sự biểu lộ của trí năng, và được bậc CứuThế như đức Chúa dùng, lẫn ai theo tà thuật.
Tính thiêng liêng muốn nói sự thể hiện các đặc tính của ngôi hai, hay mặt tạo dựng của Thượng Đế là từ lực magnetism hay sức thu hút, tình thương, tính bao trọn inclusiveness, hiểu biết bằng trực giác (nhờ hòa hợp với đối tượng, thay vì dùng trí năng đứng ngoài nhìn vào và ‘thấy’ như chữ hay nói ‘Tôi thấy…’), óc không chia rẽ, lòng hy sinh cho sự tốt lành của thế giới, tính không ích kỷ, hợp tác với Thiên Cơ, và các đặc tính khác.

– Thông nhãn thì sao, mình nói được gì về khả năng này ?
– Ừa, hay đó. Sẵn đây mình cũng nên nói về thông nhãn. HPB ghi là có hai loại, một có tính tâm linh, và cái kia thuộc về tinh thần. Loại tâm linh psychic sử dụng thể tình cảm, do đó tùy thuộc mức độ bén nhậy nhiều hay ít của những quan năng thuộc thể này. Do đó nó khác rất xa với trạng thái toàn hảo, toàn tri của tinh thần bởi với loại trước, đương sự chỉ có thể thấy mơ hồ sự thật xuyên qua bức màn mà thiên nhiên vật chất chặn lại.
Khi cái trí còn nối kết chặt chẽ không tách biệt với não bộ, ở trong thể xác con người thay vì thoát ra tự do hoạt động không bị chi phối. nó bị chìm sâu trong não mà cũng sử dụng não. Đây là cái ngã, là một thực thể có ý thức. Khi tâm thức còn ở trong thân xác vật chất, sự chính xác, rõ ràng của những gì nó thấy nơi cõi cao thì có liên hệ ít nhiều với nguyên lý cao của nó tức phần tinh thần. Khi mối liên hệ này mạnh mẽ tới mức cho phép phần thanh nhẹ nhất của linh hồn thoát ra khỏi vật chất nặng nề, được tự do hoạt động không bị não bộ làm vướng bận, nó có thể hiểu không sai chạy điều chi nhìn thấy. Trạng thái ấy tiếng Phạn gọi là Samadhi hay nhập định, xuất hồn, là trạng thái tinh thần cao nhất mà ta có thể đạt được trên địa cầu.
Những mức khác nhau của trạng thái này có thể đạt được bằng cách điều khiển hơi thở, thí dụ khi luyện tập thì người ta có thể nhịn thở mấy tiếng đồng hồ, người Ấn Độ gọi đó là Pranayama, Pratyahara, và Dharana tùy theo trạng thái tâm lý. Khi cơ thể ở trạng thái Dharana - cơ thể hoàn toàn bị hôn mê theo quan điểm thông thường - phần hồn của người có thông nhãn có thể thoát ra ngoài và nhìn sự việc ở cõi tâm linh, nhưng phần cảm nhận của não bộ vẫn sống động và linh hoạt, hình ảnh của quá khứ, hiện tại và tương lai sẽ bị nhuộm mầu với cảm nhận cõi trần của thế giới hữu hình thường ngày; ký ức phàm trần và mộng tưởng ngăn trở nhãn quan trong sáng.
Tuy nhiên bậc đạo sư biết cách làm ngưng lại hành động máy móc của não. Nhãn quan của họ sẽ trong trẻo như chính chân lý, không bị nhuộm mầu hay biến dạng. Trong khi ấy, người có thông nhãn vì không thể làm chủ những làn rung động ở cõi tình cảm, sẽ qua não bộ chỉ thấy nhiều hay ít các hình ảnh vỡ vụn. Người có thông nhãn tinh thần không hề lầm lẫn các bóng hình chập chờn với thực tại, vì ký ức của họ hoàn toàn chịu sự điều khiển của ý chí như các phần khác của cơ thể tuân phục ý chí họ, họ nhận ấn tượng thẳng từ tinh thần của mình, không có điều chi ở giữa ngăn cản phàm nhân - cái tôi hữu hình với Chân nhân hay cái tôi tinh thần của họ. Đây là thông nhãn tinh thần đích thực như Plato nói, là linh hồn được nâng cao hơn hẳn mọi điều tốt đẹp kém hơn, khi ta tới ‘điều chi tột mức là điều đơn sơ, thanh khiết và bất biến, không có sắc tướng, mầu sắc hay đức hạnh con người, nói khác đi là ‘Thượng Đế hay phần tinh thần của chúng ta’.
Đây là trạng thái mà các hiền triết xưa gọi là sự ‘Hợp nhất với Thần linh’, còn nhà Yogi thời cổ gọi là Isvara hay Thượng Đế, và tiếng đương thời gọi là Samaddi; nó cao hơn loại thông nhãn ta hay nghe nói như ngôi sao so với con đom đóm.

– Sang lễ cầu siêu, cầu hồn ở chùa hay nhà thờ v.v. thì chúng có tác dụng ra sao ?
– Đây là quan sát của ông Hodson trong một lễ cầu hồn tại nhà thờ, mình có thể suy đoán là việc tương tự cũng xẩy ra ở những nơi thờ phượng khác, của những tôn giáo khác. Buổi lễ được tổ chức thường xuyên với chủ ý đặc biệt là giúp những ai vừa qua đời. Ngay trước khi lễ diễn ra, những người cứu trợ vô hình và tín đồ tụ họp trong nhà thờ, trong số đó có những tín hữu quen thuộc của nhà thờ đã qua đời, họ tới đặc biệt dự các lễ cầu hồn này, một phần là để an ủi và giúp đỡ, và một phần là để lấy hứng khởi cho việc làm nơi cõi của họ.
Chuyện đáng nói là người ta quan sát thấy ở cõi vô hình, có một số người đã khuất được mang vào nhà thờ như thể họ nằm trên băng ca, và được sắp xếp cho nằm quanh bàn thờ. Thấy họ có vẻ như mặc quần áo mầu tối và hoàn toàn mê man, không ý thức, xem xét kỹ thì đây là linh hồn của những người tự tử mà có karma tốt, cho phép họ nhận được sự hướng dẫn của giáo hội. Những người trợ giúp họ hy vọng là lễ cầu hồn sẽ khơi tỉnh họ khỏi giấc ngủ mê đó sớm hơn và an toàn hơn, đây là cơn ngủ dài mà nhiều người tự tử trải qua cho tới lúc lẽ ra là lúc họ qua đời theo đúng số mạng.
Nhiều người tự tử khác đã thức tỉnh theo cách vừa nói cũng hiện diện, một số là bạn của giáo sĩ cử hành lễ, với ông đặc biệt nghĩ đến họ trong tâm. Thấy như có đôi chút khó khăn trong việc kết nối với sự thức giấc sớm hơn ấn định, điều chỉ diễn ra an toàn nếu ta sắp xếp cho có một hệ thống đặc biệt để che chở và hướng dẫn họ. Các thiên thần được giao phần việc không ngừng trông nom những người này, giữ cho họ không bị hại và giúp họ từ từ thích nghi với điều quả thật là không tự nhiên một chút, vì tình trạng tựa như cái kén bị vỡ ra trước khi đôi cánh mầu sắc xinh đẹp của con bướm sẵn sàng để bay.
Cho dù có sự bảo vệ như thế, rối rắm vẫn có thể xẩy ra do tâm trí của cá nhân. Có người, sự cay đắng đôi lúc sâu đậm tới mức thành chán nản cùng cực, và lòng hối hận tiếp tục làm anh đau khổ. Lễ cầu hồn giúp làm nhẹ bớt gánh nặng trĩu vai này của anh, và làm biến đổi những cảm xúc ấy thành tốt hơn, là ý thật tình hối lỗi cùng mong ước khắc phục được khuyết điểm của tính người. Khi nhìn kỹ ta thấy trong vài trường hợp các diễn tiến này thật là tinh tế ra sao, và người ta phải nhẹ nhàng và khôn ngoan thế nào trong cách xử sự với họ.
Ta còn có thể nghĩ rằng trong một số trường hợp, để họ chìm sâu vào hôn mê một thời gian dài không chừng lại là chuyện hay hơn, vì nó tự nhiên hơn; nhưng nếu người nhận có thể đáp ứng đúng cách thì khi ấy karma do việc vi phạm luật của họ được giảm đi đáng kể, và ảnh hưởng của nó cho nhiều đời sau sẽ bớt hại hơn. Nơi một số người khác được quan sát, nghi lễ tỏ ra vô dụng hoàn toàn, họ mê man quá sâu, màn bao phủ quá nặng nề; dầu vậy mỗi tuần người ta kiên nhẫn và thương yêu mang họ tới để ít nhất, các thể thanh của họ nhận được ân lành của đức Chúa qua giáo hội.

Người Mới Qua Đời
Một phần của nhóm người vô hình dự lễ gồm những người mới qua đời, được mang từ các giáo xứ khác đến, và trong vài trường hợp được người cứu trợ vô hình mang đến từ nơi rất xa. Vài người mới tỉnh giấc này có đầu óc bị chấn động phần nào, chưa ý thức sự thay đổi đã xẩy ra cho họ, và một số khác vẫn còn đang ngủ; chứng kiến cảnh nhóm sau chót này thức tỉnh và có kinh nghiệm mới mẻ đầu tiên về cuộc sống mới, thấy mình ở trong một nhà thờ xinh đẹp, có thiên thần rực rỡ vây quanh và họ nhận những lực và phép lành to lớn mà giáo hội có bổn phận ban ra, là chuyện thú vị.
Có nhiều trẻ em hiện diện và chúng được mang tới gần bàn thờ hơn người lớn. Các em mang theo với mình bầu không khí đẹp đẽ của những nơi cao hơn thuộc cõi bên trong, của đồng cỏ phì nhiêu đầy hoa xinh đẹp, cảnh trí hữu tình, hương thơm của mùa xuân và tiếng cười hân hoan của tuổi thơ. Những người chăm sóc lớn tuổi hơn có đó lo cho các em, trong vài trường hợp là chính cha mẹ hay thân nhân khác của các em, và sự  có mặt của trẻ mang lại sự tươi vui cho trọn buổi lễ. Nét tươi vui này nên được cả giáo sĩ và tín hữu dự lễ nhấn mạnh, và trọn bầu không khí nên được giữ cho càng nhẹ nhàng và sáng lạn càng hay.
Khi lễ bắt đầu, bức màn ngăn giữa hai cõi hữu hình và vô hình bắt đầu hóa mỏng đi, và dần dần làm như được kéo hẳn sang một bên và hai phần của người dự lễ - người sống và người chết - được mang lại gần nhau, kết hợp chặt chẽ. Khi tên của từng người quá cố được giáo sĩ hành lễ nhắc tới, đương sự chợt sáng bừng lên với ánh sáng từ cõi cao tuôn xuống, qua những thể thanh của giáo sĩ vào người có tên được nhắc và nhớ. Chuyện cũng y vậy tuy có giảm đi đôi chút, cho những ai được giáo chúng hồi tưởng mà giáo sĩ không biết họ.
Từ đây ta có thể suy đoán là tên của tất cả ai thân yêu đã qua đời mà ta muốn hồi tưởng, nên được đưa trước cho gíáo sĩ là hay nhất, tuy nó không hề muốn nói là lời kinh và tình thương ngay cả của người hèn mọn nhất, cũng không có giá trị to tát nhất cho ai nhận được chúng. Buổi lễ là một thực tại thật sự cho tất cả ai có mặt trong cõi vô hình, vì chẳng những họ thấy được vẻ diễm lệ của vị Thiên thần, mà một phần lực tuôn xuống làm như khơi động tim họ, làm họ cũng bừng lên với ánh sáng chiếu rạng từ buổi lễ.
Điều này cho họ một cảm xúc vui vẻ và phấn khởi sâu đậm, và làm họ quên đi trong một lúc những khó khăn mà họ có thể có. Năng lực làm như xuyên thấu vào tới bóng tối dầy đặc mà một số người tự tử đang say ngủ chìm sâu trong đó. Ít nhất, chân nhân của họ cảm biết lực của đức Chúa và vui  hưởng sự hiện diện thiêng liêng của ngài. Khi nhìn thấy cảnh này, ta nhận ra tình thương của ngài bao trùm tất cả ra sao, và dù có thể bị sa ngã rơi xuống thấp tới đâu, ta vẫn không mất đi lòng thương yêu lan khắp của ngài.
Khi quan sát buổi lễ, ta thấy phần nào sự huyền diệu của tình thương ấy được những người đã vi phạm một nguyên lý to lớn của thiên nhiên khi hủy chính sự sống của mình, cảm nhận được. Thể thanh của họ tràn ngập sự chói rạng, và tim của gần như hết thẩy mọi người đầy nỗi hân hoan và tôn kính.
– Nghe thích quá, Bo hỉ.
Theo:
Clairvoyant Investigations - Christian Origins and Ceremonial - G. Hodson

Geese